Sunday, December 30, 2012



Thành tựu quân sự nổi bật nhất năm 2012

       Thứ Sáu, 28/12/2012, 13:47 [GMT+7]
       Theo các chuyên gia, những bước tiến này sẽ góp phần làm thay đổi đáng kể diện mạo chiến tranh tương lai.
.........

7. Hệ thống dẫn đường NAVSOP.
    NAVSOP được coi là phương án thay thế cho Hệ thống Định vị Toàn cầu GPS, có khả năng xác định vị trí các mục tiêu.
    Điểm khác biệt của NAVSOP là khả năng sống còn và tính ổn định cao. Thiết bị này không cần cơ sở hạ tầng và máy phát vô tuyến. Hệ thống này được sử dụng trong trường hợp GPS không thể hoạt động như trong tòa nhà, trong rừng rậm hoặc dưới lòng đất. Ngoài ra, nhờ sử dụng tín hiệu vô tuyến phát đi từ các vệ tinh có quỹ đạo bay thấp, NAVSOP có thể hoạt động ở các khu vực xa xôi hẻo lãnh.






TRUNG CỘNG CHẠY ĐUA NGÂN SÁCH QUỐC PHÒNG VỚI MỸ
tka23 post
   Tỉ lệ ngân sách quốc phòng trên GDP của Mỹ và Trung cộng lần lượt là 4,14% và gần 2%. Với tiềm lực kinh tế chỉ bằng nửa Mỹ (GDP năm 2011 của Mỹ là trên 15.000 tỉ USD, còn Trung cộng là hơn 7.000 tỉ), liệu Trung cộng có thể chạy đua với Mỹ trong bao lâu?
Vừa qua, cả Thượng viện và Hạ viện Mỹ đều đồng ý với dự toán ngân sách quốc phòng năm 2013 của Bộ Quốc phòng Mỹ, phê chuẩn ngân sách quốc phòng năm 2013 là 631 tỉ USD, trong đó 552,2 tỉ USD sẽ dành cho các hạng mục dự án căn bản của quân đội Mỹ, còn lại 88,5 tỉ USD được sử dụng để duy trì các hoạt động tác chiến trên toàn cầu.
Ngân sách quốc phòng vừa được lưỡng viện Mỹ phê chuẩn cao hơn dự toán ngân sách mà chính phủ của ông Obama đưa ra đầu năm nay 1,7 tỉ USD, sự phê chuẩn có tính pháp lý của lưỡng viện sẽ được đệ trình lên tổng Thống Obama ký duyệt vào tuần tới.
Trong dự toán ngân sách này, điều đầu tiên là chấm dứt đầu tư vào kế hoạch xây dựng hệ thống phòng thủ hỏa tiển  ở bờ biển phía đông nước Mỹ do Đảng Cộng hòa khởi xướng, chấp thuận một số hợp đồng mua sắm trang bị mới trong nhiều năm, bao gồm:
 
Máy bay trực thăng CH-47 của lục quân Mỹ,
tàu khu trục DDG-51 và
máy bay vận tải cánh quạt V-22 Osprey của hải quân.
Ngoài ra, Thượng viện và Hạ viện Mỹ cũng giới hạn số lượng nhân viên tình báo và gián điệp quân sự Mỹ ở nước ngoài, đồng thời đồng ý,  những điều chỉnh hướng tiếp nhận đầu tư ngân sách, giao cho Bộ Năng lượng trách nhiệm những hạng mục ,nghiên cứu phát triển nhiên liệu sinh học mà Bộ Quốc phòng đề nghị
Lực lượng tàu khu trục Mỹ sẽ được tiếp tục được tăng cường trong thời gian tới.
Như vậy, ngân sách quốc phòng Mỹ lại tiếp tục tăng, cho dù đầu năm nay , họ đã có dự định cắt giảm chi phí quân sự do khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Hiện ngân sách quốc phòng Mỹ đã cao gấp 6 lần Trung cộng (khoảng 106 tỉ USD), tỉ lệ ngân sách quốc phòng trên GDP của Mỹ và Trung cộng lần lượt là 4,14% và gần 2%. Với tiềm lực kinh tế chỉ bằng nửa Mỹ (GDP năm 2011 của Mỹ là trên 15.000 tỉ USD, còn Trung cộng là hơn 7.000 tỉ), liệu Trung cộng có thể chạy đua với Mỹ trong bao lâu?
TỔNG HƠP
__._,_.___
Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (1)
Recent Activity:

AI THẮNG ? AI THUA ?
Trần Trung Chính
 
Bàn luận về sắc đẹp của phụ nữ, chúng ta thường được nghe những mại viên của ngành costemic cũng như các chuyên viên trang điểm cho phụ nữ cho rằng :“ Không có phụ nữ nào xấu cả, chỉ có những người chưa được đẹp vì họ chưa biết trang điểm”.
Phản bác một phần của nhận định này , cá nhân người viết bài này cho rằng : “ thực tế có một số phụ nữ thật sự xấu không phải vì họ không biết trang điểm mà là vì họ đã trang điểm nhiều rồi mà nhan sắc của họ vẫn chưa thể đẹp lên được chút nào cả. Thí dụ : Thị Nở -girl friend của Chí Phèo trong tác phẩm của nhà văn Nam Cao hay hoặc Chị Doãn được nhà văn Vũ Trọng Phụng mô tả “ Chị Doãn có cái nhan sắc của một người đàn ông không đẹp giai”.
Ông bạn thân của tôi – nhà văn Trần Văn Giang – còn chua chát hơn khi cho rằng : “ thực tế có một số phụ nữ thật sự xấu nhưng vẫn chưa chịu nhìn nhận là mình xấu !!!”
Thời gian gần đây, nhà báo Huy Đức đã phóng lên mạng phổ biến quyển sách với tựa đề BÊN THẮNG CUỘC và “phe ta” đã lên tiếng đáp trả khá sôi động. Tôi viết bài viết này để chứng minh BÊN THẮNG CUỘC không phải là phía Việt Cộng mà nhà báo Huy Đức được các “bề trên “ của ông ủy thác tâm sự hay nhà báo Huy Đức ghi nhận các sự kiện theo cách riêng của ông. Cũng như các phụ nữ thật sự xấu nhưng vẫn chưa chịu nhìn nhận mình là xấu, Việt Cộng chưa bao giờ nhìn nhận họ là BÊN THUA CUỘC. Sử Ký là ghi lại những sự kiện (facts), không ai có quyền và không ai có tư cách để sửa đổi sự kiện lịch sử, nhưng những thông tin tôi đưa vào bài viết này là những facts mà không thấy “phe ta” nêu ra trên diễn đàn, và tôi tin chắc rằng phía Việt Cộng sẽ thay đổi ý kiến (opinion) hoặc im lặng để ngậm ngùi cho thân phận “con ếch mà cứ muốn to bằng con bò”.
1.- Chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953 , khi Thống Tướng Mac Arthur chỉ huy 280,000 quân Liên Hiệp Quốc (trong đó có 250,000 binh sĩ Hoa Kỳ) đổ bộ Inchon bắt được hơn 130,000 quân Bắc Hàn và đẩy lui quân Bắc Hàn đến tận sông Áp Lục, Mao Trạch Đông chỉ thị nguyên soái Bành Đức Hoài chỉ huy 1 triệu chí nguyên quân Trung Hoa tràn sang Triều Tiên đẩy lùi quân Liên Hiệp Quốc xuống vĩ tuyên 38. Thống Tướng Mac Arthur trình kế hoạch tấn công Trung Cộng vào sâu trong lục địa, Tổng Thống Harry Truman biết kế hoạch của tướng Mac Arthur chỉ đúng về mặt quân sự, ông cất chức tướng Mac Arthur triệu hồi về Mỹ và bổ nhiệm tướng Ridgway lên thay vì ông không muốn sa lầy vào chiến trường Triều Tiên (kinh nghiệm 1 triệu quân Quan Đông của Nhật Bản rải vào Trung Hoa chả thấm vào đâu mà chỉ giữ được một số tỉnh ven biển) và khi sa lầy ở Trung Hoa thì Hoa Kỳ sẽ mất Âu Châu vào tay Staline. Cù cưa mà chả bên nào lấn chiếm thêm được nữa nên Hiệp Định ngưng chiến Bàn Môn Điếm ra đời. Cả 2 nước Nam – Bắc Triều Tiên khi ngưng bắn vào năm 1953 vẫn còn trong tình trạng chiến tranh cho đến tận bây giờ (2012). Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai cũng như Đảng Cộng Sản Trung Hoa cảm thấy thất vọng vì Hoa Kỳ vẫn không công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Và cũng không thèm đối thoại với các lãnh tụ Trung Cộng trên bình diện ngoại giao chính thống.
2.- Chiến tranh Việt Pháp từ năm 1946 đến 1954 đưa Trung Cộng đến Hội Nghị Geneve , nhưng Trung Cộng vẫn không tiến triển thêm được bước nào trong mục tiêu được Hoa Kỳ công nhận.. Tháng 5/1972 khi Tổng Thống Richard Nixon đếnBắc Kinh, chính Thủ Tướng Chu Ân Lai tiết lộ chi tiết bị người Mỹ coi thường vào năm 1954 ở Hội Nghị Geneve : Chu Ân Lai lúc đó là Thủ Tướng kiêm Ngoai Trưởng của Trung Cộng đến phòng họp trước Ngoại Trưởng Dulles của Hoa Kỳ, khi Dulles đến, Chu Ân Lai tươi cười dơ tay trước. Ngoại Trưởng Dulles mặt nghiêm bước vào phòng họp mà không bắt tay Chu Ân Lai, khi đi ngang Chu Ân Lai ông này quay mặt nhìn ngang sang Chu Ân Lai rồi bước vào phòng họp nói chuyện với Ngoại Trưởng Liên Sô là Molotov và Ngoại Trưởng Anh là Sir Anthony Eden : Chu Ân Lai thừa hiểu là Dulles coi Trung Cộng là tay sai của Liên Sô nên Dulles chỉ nói chuyên với boss của Chu Ân Lai là Molotov . 10 năm sau, Tổng Thống Pháp là tướng Charles De Gaulle vì kèn cựa với Hoa Kỳ nên năm nào cũng đề nghị cho Trung Cộng gia nhập Liên Hiệp Quốc (với sự đồng thuận và hỗ trợ của Liên Sô) nhưng Hoa Kỳ vẫn nói KHÔNG. Và Trung Cộng cũng đành bó tay không có cách nào khác.
3.- Chiến tranh Việt Nam từ năm 1965 (tôi lấy thời điểm này làm mốc vì quân đội Hoa Kỳ chính thức vào Việt Nam qua văn thư yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát) đã khiến Tổng Thống Richard Nixon và Cố Vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ là Henry Kissinger đến Bắc Kinh. Mao Trạch Đông , Chu Ân Lai và Đảng Cộng Sản Trung Hoa vui mừng “không còn chỗ nói”, vì qua bản thông cáo Thượng Hải 1972 Trung Cộng đạt được 3 mục tiêu chiến lược :
A ) Được Hoa Kỳ thừa nhận là một “thực thể quốc gia” (trước đó Hoa Kỳ chỉ coi chính quyền Trung Cộng là một “thực tế” ) cho nên sẽ có thiết lập bang giao với sứ thần đàng hoàng chứ không còn nhờ một quốc gia khác đại diện bảo vệ quyền lợi .
B ) Hoa Kỳ đồng ý cho Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa gia nhập Liên Hiệp Quốc thay thế cho Trung Hoa Dân Quốc, có quyền phủ quyết như trong Hiến Chương San Francisco quy định (mục tiêu này mãi tới 21 năm kể từ 1949, Trung Cộng mới đạt được ) .
C ) Hoa Kỳ công nhận chỉ có một nước Trung Hoa duy nhất ( nhiều người tưởng là Hoa Kỳ ngu dại khi công nhận điều khoản này, trong khi Hoa Kỳ thừa biết là Trung Cộng muốn tiến đánh Đài Loan bằng vũ lực thì phải có một hải lực cực mạnh, mặt khác vì Tổng Thống Tưởng Giới Thạch dù thực tế chỉ giữ được Đài Loan nhưng ông vẫn có một Quốc Hội đại diện cho 18 tỉnh của Trung Hoa Lục Địa và ông cho rằng chiếc ghế của Trung Hoa Dân Quốc đại diện cho nước Trung Hoa. – [nên nhớ rằng năm 1943, khi họp tại Yalta, các lãnh tụ phe Đồng Minh bàn định về kế hoạch chấm dứt Thế Chiến II và tương lai của thế giới sau khi chiến tranh chấm dứt, 4 lãnh tụ đó là : Tổng Thống Roosevelt của Hoa Kỳ , Thủ Tướng Churchil của Anh Quốc, Chủ Tịch Staline của Liên Sô và Tổng Thống Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa , nước Pháp không có đại diện vì không được mời họp ] ) Khi Tổng Thống Lý Đăng Huy của Quốc Dân Đảng là người Đài Loan lên cầm quyền, thì thế hệ của Tưởng Giới Thạch – Tưởng Kinh Quốc đã qua đời, nếu Trung Cộng tiến đánh Đài Loan bằng vũ lực thì danh hiệu Trung Hoa Dân Quốc sẽ không còn và sẽ trở thành Cộng Hòa Đài Loan đồng thời Cộng Hòa Đài Loan sẽ chính thức xin gia nhập Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ sẽ can thiệp vì Trung Cộng đã xâm lăng một quốc gia khác) .
Tuy tự công nhận là BÊN CHIẾN THẮNG trong chiến tranh Việt Nam, nhưng Trung Cộng không ồn ào khoe rùm beng như phía Việt Cộng vì cả Mao Trạch Dông và Chu Ân Lai đều hiểu rằng 2 kẻ chơi cờ đấu trí với nhau trên bàn cờ thế giới lúc bấy giờ là Hoa Kỳ và Liên Sô. Việc Hoa Kỳ không phải tự nhiên ban cho Trung Cộng nhiều đặc ân mà chính là Hoa Kỳ đã sử dụng Trung Cộng như một con cờ nhằm “chiếu bí” Liên Sô và Mao Trạch Đông + Chu Ân Lai chấp nhận vai trò ấy trong tinh thần “đôi bên cùng có lợi”.
Phía Việt Cộng do các đàn anh “phỉnh gạt” và cũng hay “nổ bậy để dương oai” để lòe và lường gạt dân Việt nên lúc nào cũng rêu rao là “ Cách Mạng Việt Nam đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” (khi xưa, thất bại thì hô lên do Mỹ - Ngụyphá hoại , bây giờ thì nói bâng quơ là do “thế lực thù địch” không dám nêu đích danh quốc gia hay chính phủ nào cả ). Tôi liệt kê vào bài viết này những mất mát và thua thiệt của Việt Cộng để chứng minh rằng Việt Cộng chỉ là những kẻ THUA CUỘC trên bàn cờ thế giới. Dĩ nhiên phía Việt Cộng (trong đó có nhà báo Huy Đức) và cả “phe ta” đều thắc mắc là chính phủ VNCH sụp đổ , quân nhân cán bộ và viên chức chính quyền VNCH bị cầm tù đày đọa trong nhiều năm trời (trong đó có cá nhân người viết bài này cũng bị cầm tù 8 năm), dân chúng của miền Nam bị kỳ thị, bị xua đuổi ra khỏi thành phố và phải vượt thoát khỏi sự cai trị hà khắc của Việt Cộng…thì không phải là PHÍA THUA CUỘC thì là phía gì ?
Việt Nam Cộng Hòa (bao gồm chính phủ và nhân dân VNCH) không phải là phía “play game” trong chiến tranh Việt Nam 1954 – 1975, chúng ta bị buộc phải tham chiến để bảo vệ lãnh thổ và sinh mạng người dân như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trước lưỡng viện Quốc Hội VNCH khi ông từ chối bước vào hòa đàm Paris năm 1968 dưới thời Tổng Thống Lyndon Johnson : “chúng ta thà rằng chết bây giờ để hy vọng rằng con cháu chúng ta được sống…”. Ba cuộc tấn công lớn trong những năm 1968 Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa trong năm 1972, cũng như cuộc Tổng Tấn Công vào đầu năm 1975 đều hoàn toàn do Bắc Việt chủ trương với sự yểm trợ tối đa về vũ khí của khối Cộng. Và biến cố 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra vì Hoa Kỳ không muốn play game nữa, trong khi quân dân VNCH đã chiến đấu tận tình trong khả năng và ý chí của mình.
Những ai trách móc Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm …phải có trách nhiệm để làm mất VNCH là nói bậy, ăn theo bả tuyên truyền của Việt Cộng : vì muốn đem lại hòa bình thật sự cho toàn cõi Việt Nam, thì phải tiêu diệt kẻ đi xâm lược là Bắc Việt, các vị lãnh đạo VNCH không ai có khả năng tiêu diệt Việt Cộng (tức là đánh gục Bắc Việt) cho nên tôi rất thương cảm các vị lãnh đạo của VNCH. Người lãnh đạo giỏi thì chông cự quân xâm lăng được lâu, người lãnh đạo dở thì chống cư với thời gian ngắn hơn. Đối với tôi,khi gặp những kẻ chê trách các vị lãnh đạo VNCH, tôi chỉ hỏi cá nhân hay phe nhóm của những kẻ đó hãy kể cho tôi nghe những nỗ lực giữ nước của họ, thì những kẻ này bỏ đi vì họ và phe nhóm của họ NOTHING TO DO (ấy là chưa kể họ và phe nhóm của họ dấu diếm và chứa chấp Việt Cộng trong nhà như là một hình thức “đâm sau lưng chiến sĩ” ).
Sự thua thiệt thứ nhất : Hồ chí Minh cướp chính quyền trong tay của chính phủ Trần Trọng Kim, tuyên bố độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 nhưng không có một cường quốc nào công nhận cả ( kể cả Liên Sô là nước khai sinh ra chế độ Cộng Sản). Hồ chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam khoác lác tuyên truyền và sửa lịch sử rằng họ cướp chính quyền từ tay thực dân Pháp trong khi thực tế cho thấy rằng khi quân đội Nhật đảo chính quân Pháp tại Đông Dương vào tháng 3 năm 1945 thì tất cả viên chính hành chánh và quân đội Pháp đều bị bắt giam hết cả : thực dân Pháp đâu còn nắm chính quyền nữa thì lấy đâu ra chính quyền trong tay thực dân Pháp để cho Hồ chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam cướp !!!
Đối với Anh Mỹ , qua cơ quan OSS và tài liệu của Sở Liêm Phóng Đông Dương, họ biết Hồ chí Minh là một tên Cộng Sản đệ tam quốc tế. Còn Staline thì cho rằng Hồ chí Minh là tay sai của Mao Trạch Đông nên Liên Sô không ủng hộ ( Staline nhận định quá chính xác vì quả thực Hồ chí Minh là tay sai của Mao Trạch Đông mặc dù mồm miệng vẫn ca tụng Staline ) . Vả lại hội nghị Postdam xảy ra ngay sau khi Hitler tự sát và nước Đức Quốc Xã đầu hàng vào tháng 5/1945 đã phân định trách nhiệm và địa phận của các nước thắng trận trước khi nước Nhật đầu hàng vào tháng 8/1945.
Vì Việt Nam không được các cường quốc công nhận sự độc lập vừa mới tự xưng nên khi quân đội Trung Hoa của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch (do tướng Lư Hán chỉ huy ) vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra và quân đội Anh (do tướng Gracey chỉ huy) vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào thì Hồ chí Minh không dám đưa ra bất kỳ lời phản đối nào. Tướng Charles de Gaulle – thủ lãnh của nước Pháp Tự Do – vận động riêng với Thủ Tướng Churchill của Anh cho phép quân Pháp theo chân quân Anh vào Sài Gòn (quân Pháp do tướng Lecler chỉ huy). Tôi không thấy Hồ chí Minh và Bộ Ngoại Giao của nước VNDCCH đưa ra được một công hàm ngoại giao nào để lên tiếng phản đối về sự can thiệp của các lực lượng ngoại nhập vào công việc nội bộ của một nước độc lập tự chủ ? Như vậy chứng tỏ Hồ chí Minh và chính quyền của nước VNDCCH không hề có một thể diện nào trên chính trường thế giới. Khi quân đội Anh làm xong nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật, tướng Gracey rút quân Anh ra khỏi Việt Nam thì quân đội Pháp do tướng Lecler chỉ huy vẫn ở lại miền Nam, thì chiến tranh Việt – Pháp là điều không thể tránh được.
Sự thua thiệt thứ hai : năm 1949, sau khi đuổi được phe Quốc Dân Đảng phải chạy ra Đài Loan, Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản Trung Hoa tiến chiếm toàn bộ Trung Hoa Lục Địa, Trung Cộng liền viện trợ ồ ạt cho binh đội của Việt Minh. Năm 1950, Tướng Võ Nguyên Giáp đã đủ sức mở các cuộc tấn công quân đội Pháp dọc theo biên giới Hoa – Việt : quân khu Lạng Sơn của Pháp bị thất thủ rơi vào tay quân đội Việt Minh và chính phủ Pháp phải đưa Thống Tướng De Lattre Tassigni làm Tư Lệnh Quân Đội Viễn Chinh Pháp tại Đông Dương đồng thời tăng cường thêm viện binh như Thống Tướng De Lattre yêu cầu (không kể lính tráng người Việt Nam, quân số quân đội viễn chinh Pháp dưới thời Thống Tướng De Lattre chỉ huy lên tới 220,000 người).
Là một tướng giỏi, Thống Tướng De Lattre đã đẩy lui quân đội Việt Minh trên nhiều mặt trận kể cả trận Hòa Bình, người con trai duy nhất của ông là Trung Úy Bernard De Lattre bị tử thương tại trận này. Nhưng ông biết rằng nước Pháp không đủ sức để đối đầu với Trung Hoa vĩ đại , nên sau khi biết Đại Tướng Eisenhower đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1952 – 1956, ông sang Hoa Kỳ vận động tân Tổng Thống Eisenhower trợ giúp nước Pháp. Về mặt cầu viện Hoa Kỳ, chính phủ Pháp đã tỏ ra là một chính phủ lãnh đạo kém : Ngoại Trưởng hay Thủ Tướng Chính Phủ sao không đi Hoa Kỳ làm công việc ngoại giao mà phải để một ông tướng đương nhiệmTư Lệnh chiến trường Đông Dương phải đi Washington D.C. trong lúc chiến trường đang trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng cần sự có mặt liên tục của Thống Tướng De Lattre ? Phải chăng chính phủ Pháp lợi dụng sự thân tình giữa Đại Tướng Eisenhower và Thống Tướng De Lattre trong thời gian Đại Tướng Eisenhower làm Tổng Tư Lệnh quân đội Đồng Minh đánh lại quân của Hitler và Mussolini hồi trước năm 1945 ? Điều đó không sai khi Hoa Kỳ đồng ý viện trợ vũ khi, quân trang, quân dụng cho quân đội Pháp tại chiến trường Đông Dương.
Tổng Thống Eisenhower gợi ý là nước Pháp nên trao trả độc lập cho Việt Nam (dĩ nhiên trao cho người quốc gia chứ không phải trao cho cán bộ Cộng Sản như Hồ chí Minh) và quân đội Pháp – do sự yêu cầu của chính quyền độc lập tự chủ chiến đấu tại chiến trường Đông Dương để ngăn chặn Cộng Sản như Hoa Kỳ đã làm tại chiến trường Cao Ly hồi 1950 – 1953. Thống Tướng De Lattre ghi nhận ý kiến của Tổng Thống Eisenhower, ông cũng cho Tổng Thống Mỹ biết là ông không có ảnh hưởng gì nhiều đến chính trường Pháp, tuy nhiên ông hứa là ông sẽ vận động trong chính giới Pháp. Từ Hoa Kỳ, Thống Tướng De Lattre trở lại Đông Dương ngay, và chỉ một thời gian sau đó ông phải trở về Pháp để chữa bệnh ung thư rồi chết tại Pháp mà chưa có kịp vận động hay thuyết phục chính giới Pháp gì hết !!!
Với các thông tin này, chúng ta thấy rằng nếu Hồ chí Minh là người quốc gia thì nước Việt Nam của chúng ta đã được Hoa Kỳ - Anh – Pháp ủng hộ từ lâu và sẽ không có chiến tranh, đổ vỡ, tan nát và chia rẽ như hiện nay : các nước Đông Nam Á cựu thuộc địa như Indonesia, Malaysia, Philippines …vì không có Cộng Sản nên được trao trả độc lập, an hưởng thái bình và xây dựng quốc gia phú cường. Do đó Đảng Cộng Sản Việt Nam và các đảng viên Việt Cộng lúc nào cũng lớn lối về lòng tự hào “đánh thắng nhiều tên đế quốc” mà không bao giờ tự hỏi “đánh thắng để được cái gì ” chứ ?
( Có lẽ để đạt danh hiệu “anh hùng Xã Hội Chủ Nghĩa” hão huyền chăng, ký giả Huy Đức là người trưởng thành trong XHCN có thể giải thích hiện tượng “thích làm anh hùng” để người Việt tỵ nạn Cộng Sản hiểu thêm về con người Cộng Sản !!!”
Sự thua thiệt thứ ba : khi cầm tù được tướng De Castries và khoảng hơn 10.000 binh sĩ Pháp tại thung lũng Điện Biên Phủ, Đảng Cộng Sản Việt Nam tự ca lên rằng đã đánh gục và đuổi được Đế Quốc Pháp để dành được độc lập cho Việt Nam. Tôi nói quân đội Việt Minh cầm tù được tướng De Castries vì trong bức điện cuối cùng gửi cho Bộ Tư Lênh Quân Đội Pháp đóng tại Hà Nội, tướng Castries cho hay ông đã ra lệnh cho toàn thể binh sĩ dưới quyền trú đóng tại cứ điểm Điện Biên Phủ “ngưng chiến đấu” . 2 bức hình – do phía Việt Cộng chụp – đã minh chứng điều này : một bức hình chụp từ phía sau một cán binh Việt Cộng cho thấy anh này đang cầm cờ trắng chạy lên cắm tại nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries chớ tướng De Castries không có cắm cờ trắng trên hầm chỉ huy của ông. Bức hình thứ hai chụp tướng De Castries từ trong hầm chỉ huy bước ra, ông không có dơ 2 tay lên cao khỏi đỉnh đầu thì sao Việt Cộng dám bảo là tướng De Castries đầu hàng ?
Chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Minh không phải là chiến thắng trọn vẹn vì sự sụp đổ của căn cứ Điện Biện Phủ chỉ đánh sập được ý chí chiến đấu của chính phủ Pháp và nhân dân Pháp chứ quân đội Pháp tại chiến trường Đông Dương vẫn giữ vững được các cứ điểm trọng yếu khác. Nhà báo Huy Đức cũng như các “bề trên” trong Đảng Cộng Sản Việt Nam chắc chắn không biết câu châm ngôn danh tiếng của binh đoàn Lê Dương : “nước Pháp không hỏi bạn từ đâu đến, thì bạn cũng đừng bao giờ hỏi nước Pháp sẽ đưa bạn đi đâu”. Một người chú họ xa của tôi, sau năm 1975, vào Sài Gòn có kể một câu chuyện về tính liêm sỉ của một người Đức – nguyên là lính SS của chế độ Quốc Xã sau năm 1945 tình nguyện vào binh đoàn Lê Dương – người lính Lê Dương này dù quân số ít hơn vẫn không chịu đầu hàng, sau cùng bị thương nặng ngất xỉu thì bị bắt làm tù binh. Sau khi được cứu chữa tỉnh dây, sĩ quan quân báo của Việt Minh đến hỏi lý do tại sao không đầu hàng để được sống, người lính Lê Dương gốc Đức này trả lời khiến mọi người ngạc nhiên : “ tình nguyện vào binh đoàn Lê Dương tức là lính đánh thuê, tao mà đầu hàng thì về sau ai mà thuê người Đức làm lính đánh thuê nữa”.
Việt Cộng và Trung Cộng thì chê tướng Navarre (cha đẻ ra cứ điểm Điện Biên Phủ) là dở vì 16,000 quân Pháp nằm dưới thung lũng sẽ ăn đạn pháo mà chếtkhông thể phản pháo được. Khi thiết lập căn cứ Điện Biên Phủ, tướng Navarre biết điều đó nhưng đây là chiến thuật “cục đường nhử đàn kiến”, 16,000 quân của Đại Tá De Castries nằm dưới thung lũng Điện Biên Phủ đã quyến rũ được 40,000 quân Việt Minh của tướng Võ Nguyên Giáp (không kể số dân quân đi tải vật liệu và trnag cụ vũ khí). Quân của tướng Võ Nguyên Giáp sẽ bị tiêu diệt bởi lực lượng Không Quân Chiến Lược của …Hoa Kỳ (vì không lưc của Pháp tại Đông Dương yếu lằm) . Khi căn cứ Điện Biên Phủ vừa bị tấn công, quân đội Pháp tại Đông Dương trông chờ tiếp cứu từ Không Lực Hoa Kỳ nhưng vì chính phủ Pháp vẫn còn đầu óc thực dân không chịu trao trả độc lập cho người quốc gia Việt Nam nên chính phủ Hoa Kỳ không muốn ủng hộ Đế Quốc Pháp để duy trì tình trạng thuộc địa tại Đông Dương.
Các hồ sơ được giải mật sau này cho thấy là Tổng Thống Eisenhower đã nói với đại diện chính phủ Pháp là Hoa Kỳ sẽ tham chiến nếu đồng minh Anh Quốc cũng đồng ý như vậy, trong khi đó Thủ Tướng Churchill trả lời với Thủ Tướng Daladier là : “nước Anh đã trao trả độc lập cho thuộc địa Ấn Độ từ năm 1947, thì không có lý do gì lại đi giúp nước Pháp để duy trì thuộc địa tại Đông Dương” . Như vậy sự sụp đổ của cứ điểm Điện Biên Phủ là do chính phủ Pháp chứ không phải do tướng lãnh và quân đội Pháp. Sau khi căn cứ Điện Biên Phủ sụp đổ, Thủ Tướng Daladier từ chức và chính khách Mendes France lên thay thế với khẩu hiệu “phải ký cho được một thỏa ước ngưng chiến với Việt Minh trong tháng 7/1954, nếu không được, chính phủ của tôi sẽ ra đi”.
Sự thua thiệt thứ tư : Tình hình căn cứ Điện Biên Phủ sắp tới hồi kết thúc, thì Thủ Tướng Bửu Lộc của chính phủ Quốc Gia Việt Nam từ chức, ông Ngô Đình Diệm lên thay thế. Tại hội nghị Geneve 1954, trưởng phái đoàn của chính phủ Quốc Gia Việt Nam lúc bấy giờ là luật sư Nguyễn Quốc Định được thay thế bởi ngoại trưởng Trần Văn Đỗ ( bác sĩ Trần Văn Đỗ là em trai của Luật Sư Trần Văn Chương, là chú ruột của bà Ngô Đình Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân). Khi mới sang Geneve, ông Phạm Văn Đồng có hỏi ngoại trưởng Trần Văn Đỗ là có nhận chỉ thị gì của chính phủ Sài Gòn về việc chia cắt đất nước Việt Nam hay không ? Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ trả lời là ông không có chỉ thị nào về việc này và cũng không nghe dư luận bên ngoài chính phủ bàn tán gì về việc chia cắt đất nước.
Thời gian sau đó, ngoại trưởng Trần Văn Đỗ mới biết là các đại cường đồng ý với việc chia cắt Việt Nam ra làm 2 , chỉ còn bàn cãi là cắt ở đoạn nào mà thôi. Phía Việt Cộng muốn lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới ( tức là toàn thể tỉnh Thừa Thiên tới sát Đèo Hải Vân), phía Pháp muốn lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới hoặc nếu Việt Minh muốn lấy tới vĩ tuyến 16 thì phải nhường hành lang Bùi Chu – Phát Diệm – Nam Định cho Pháp. Molotov cho Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng hay rằng Liên Sô có kinh nghiệm cay đắng về hành lang Tây Đức nối với Tây Bá Linh nên phía Liên Sô cảnh báo là không nên nhận giải pháp này vì “lợi bất cập hại”. Phía Mỹ thì không có ý kiến vì phái đoàn Mỹ đến Geneve trong vai trò giám sát và bảo chứng cho việc ký kết một hiệp định ngưng bắn giữa Pháp và Việt Minh. Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ điện về Sài Gòn báo cáo tình hình hình cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và xin chỉ thị về việc chia cắt đất nước. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm chỉ thị cho ngoại trưởng Trần Văn Đỗ phản đối việc chia cắt đất nước Việt Nam và phía chính phủ của Quốc Gia Việt Nam sẽ không ký vào hiệp định Geneve 1954 .
Sau khi Đặng Tiểu Bình dạy cho Việt Cộng một bài học vào năm 1979, Ban Lãnh Đạo của Đảng CSVN mới công bố Sách Trắng về Trung Quốc, thì nhân dân miền Bắc và các đảng viên cấp dưới mới biết rằng chính Chu Ân Lai thúc ép Hồ Chí Minh và Phạm văn Đồng phải nhận Bắc Việt ( nói theo kiểu dân chơi trong giới giang hồ : “thế là mất mẹ miền Nam cho bọn Mỹ - Ngụy). Ông Huy Đức và những người có ăn học hiểu biết trong XHCN có bao giờ thắc mắc đặt câu hỏi là : tại sao đang thắng lớn mà lại không tiếp cuộc chiến để dành hoàn toàn độc lập cho VN ? Tại sao lại chịu nhận làm chủ chỉ có một nửa nước để rồi 6 năm sau phải thành lập MTGPMN và phải đợi tới 15 năm sau mới “giải phóng” toàn bộ VN với tổn thất riêng miền Bắc không thôi cũng đã lên tới con số suýt soát 3 triệu người ? Câu trả lời chắc chắn chỉ có Đảng CSVN mới đủ kích thước và tư cách để trả lời.
Sự thua thiệt thứ năm : từ năm 1969, phái đoàn Bắc Việt cãi chầy cãi cối, cãi lòng vòng rất mất thì giờ về bàn vuông, bàn tròn, bàn hình chữ nhật… với mục đích là để được nói chuyện tay đôi với Hoa Kỳ nhằm chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam .
Nhưng tới năm 1972, Tổng Thống Richard Nixon và Cố Vấn của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ là Henry Kissinger đi thăm Liên Sô và Trung Cộng,, thì không một ai trong hàng ngũ lãnh đạo của Bắc Việt lại chịu hiểu rằng số phận cả nước Việt Nam được định đọat tại điện Kremlin và khu biệt thự có tên gọi là Trung Nam Hải., chứ không phải được định đoạt tại hòa đàm Paris. Hiệp Định Paris năm 1973 là một “bẫy rập”, nhằm giúp Hoa Kỳ rút chân ra khỏi Đông Dương, miếng mồi béo bở mà Hoa Kỳ đặt trong bẫy này là điều 21B trong bản Hiệp Định : “ Hoa Kỳ sẽ viện trợ 3 tỷ dollars cho Việt Nam nếu các bên tuân thủ các điều ký kết. Quyền tự quyết của nhân dân phải do nhân dân Việt Nam quyết định bằng lá phiếu bầu cử…” (hay đại loại gần giống như thế vì tôi không trích nguyên văn điều khoản này )
Khi Việt Cộng dứt điểm VNCH bằng vũ lực, tức là phía Việt Cộng ngang nhiên xé bỏ bản Hiệp Định Paris 1973 do chính họ đặt bút ký thì Hoa Kỳ đã có lý do để “xù nợ” tức là không viện trợ cho Việt Nam một xu nào hết mà bọn lãnh tụ Việt Cộng không thể kiện cáo vào đâu được. Nên nhớ là vào năm 1976, sau khi thống nhất 2 miến, chính quyền Việt Cộng kiểm kê dân số Việt Nam được 45 triệu người và tổng sản lượng quốc gia là 4 tỷ dollars, do vậy số tiền 3 tỷ dollars đối với chính quyền Việt Cộng là một số tiền rất lớn ( Cũng qua tờ báo Nhân Dân in tại Hà Nội, trong trại tù chúng tôi được biết rằng dòng họ Morgan có tích sản 170 tỷ dollars, được xếp hạng nhất tại Hoa Kỳ, dòng họ Rockefeller có tích sản 127 tỷ dollars được xếp hạng nhì, trong khi tồng sản lượng quốc gia GNP của Hoa Kỳ là 2,000 tỷ dollars. Nêu ra chi tiết để ký giả Huy Đức và các “bề trên” trong Đãng CSVN thấy rằng, tổng sản lượng quốc gia của Việt Nam không bằng số lẻ của tích sản dòng họ Rockefeller)
Nếu ký giả Huy Đức và các đảng viên Đảng CSVN cứ ngoan cố cho rằng Việt Cộng là BÊN THẮNG TRẬN thi tôi yêu cầu ký giả Huy Đức hãy đưa ra những thành quả cụ thể mà phía Việt Cộng thủ đắc được sau khi cướp đoạt được miền Nam bằng vũ lực, dĩ nhiên thành quả cụ thể phải tính bằng tiền chứ nói thành quả chung chung như Việt Cộng đã nói từ hơn 50 năm qua, là điều người đọc không chấp nhận được.
Trung Cộng sẽ xâm chiếm Việt Nam và nếu họ chiến thắng Việt Cộng và cai trị toàn cõi Việt Nam, liệu ký giả Huy Đức và những “bề trên” cao cấp trong Đảng CSVN có đủ liêm sỉ để ca ngợi mấy anh Ba Tàu Đỏ là BÊN THẮNG CUỘC hay không ? Nếu có thì tiếp tục giữ tựa đề quyển sách này, nếu không thì có lẽ tựa đề VIỆT NAM ƠI ! HÃY KHÓC LÊN ĐI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU là thích hợp nhất.
Trần Trung Chính
San Jose ngày 25 tháng 12 năm 2012
__._,_.___

2012/12/29 Hieunghia Nhan <nhanhieunghia38@aol.com>
LacRongVietTran

--
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Saturday, December 29, 2012

Tàu chiến Mỹ ghé cảng Philippines ngay sau khi tàu Hải tuần Trung Quốc xuống Biển Đông

Tàu ngầm hạt nhân USS Bremerton của Hoa Kỳ.
Tàu ngầm hạt nhân USS Bremerton của Hoa Kỳ.
wikipedia

Trọng Nghĩa
Hai hôm sau khi Bắc Kinh loan báo cử chiếc tàu tuần tra đại dương đầu tiên của Trung Quốc xuống hoạt động tại Biển Đông, Philippines và đồng minh Hoa Kỳ đã nhanh chóng phản ứng. Vào hôm nay, 29/12/2012, một chiếc tàu ngầm hạt nhân và một khu trục hạm sẽ ghé cảng Philippines, trong lúc quân đội Philippines loan báo cho không quân tăng cường tuần tra trên không phận của mình ngoài Biển Đông.

Theo Đại sứ quán Mỹ tại Manila cho biết là chiếc tiềm thủy đĩnh chạy bằng năng lượng hạt nhân USS Bremerton - thuộc lớp Los Angeles – sẽ ghé vịnh Subic, còn chiếc USS Gridley, một tàu khu trục hạm lớp Arleigh Burke - sẽ thả neo tại cảng Cebu.
Trong một bản thông báo, được nhật báo The Philippines Star hôm nay trích dẫn, sứ quán Mỹ xác định rằng hai chuyến ghé cảng kể trên là những hoạt động thường kỳ, nêu bật « các mối liên kết vững mạnh về mặt lịch sử, cộng đồng và quân sự » giữa Hoa Kỳ và Philippines. Mục tiêu chuyến ghé cảng chỉ là để được tiếp liệu, và cho các thủy thủ đoàn cơ hội để nghỉ ngơi và thư giãn.
Tuy nhiên, các nhà quan sát đã gắn liền việc chiến hạm Mỹ ghé cảng Philippines với sự kiện là hôm 27/12 vừa qua, Trung Quốc đã loan báo quyết định đưa chiếc Hải Tuần 21, chiếc tàu tuần tra thuộc loại hiện đại của họ, được trang bị bãi đáp trực thăng, xuống hoạt động tại Biển Đông. tiến hành tuần tra trên biển tại Biển Tây Philippines.
Quyết định của Bắc Kinh đã lập tức bị Bộ Ngoại giao Philippines phản đối dữ dội, xem đấy là một hành vi xâm phạm chủ quyền Philippines. Ngoài ra, vào hôm qua, Trung tướng Juancho Sabban, Tư lệnh quân khu miền Tây, đã loan báo việc tăng cường tuần tra trên không phận vùng Biển Đông mà Manila tuyên bố chủ quyền.
Đặt bản doanh tại Palawan, Bộ Tư lệnh quân khu miền Tây có thẩm quyền trên một khu vực rộng lớn của Biển Đông mà Philippines tuyên bố chủ quyền, trong đó có vùng quần đảo Trường Sa mà Manila đặt tên là Nhóm đảo Kalayaan (KIG).
Tuyên bố với nhật báo The Philippine Star, tướng Sabban khẳng định : « Chúng tôi cũng đã sẵn sàng thực thi luật pháp Philippines và quốc tế ».
tags: Biển Đông - Châu Á - Hoa Kỳ - Lãnh hải - Philippines - Quân sự - Quốc tế - Trung Quốc

Friday, December 28, 2012

Căn cứ hải quân Norfolk

tka23 post 
   Để chuẩn bị cho dịp nghỉ lễ Giáng Sinh 2012, hải quân Mỹ đã cho phép nhiều quân nhân  trên các hkmh đi  bờ. Và căn cứ hải quân Norfolk những ngày này trở thành nơi hội tụ của hàng loạt hkmh và tàu chiến lớn .
Với những ai đam mê các loại hkmh và chiến hạm, đây có lẽ còn hơn cả một giấc mơ khi cùng lúc tại cùng một địa điểm họ được chiêm ngưỡng tới 5 hàng không mẫu hạm và 4 tàu tấn công lưỡng dụng xếp hàng dài tại cảng. Xen giữa đó là các loại tàu nhỏ hơn cùng các tàu ngầm hạt nhân.

Do yêu cầu về an ninh, việc một lượng lớn tàu chiến của Mỹ được tập trung tại một địa điểm như trên là một ngoại lệ. Đây có lẽ là lần cuối cùng các tàu chiến này được tụ hội cùng nhau tại Norfolk bởi khoảng 60% chiến hạm của Mỹ chuẩn bị được điều tới Thái Bình Dương.
   Còn hkmh USS Enterprise thì chuẩn bị được "nghỉ hưu" sau 51 năm làm nhiệm vụ.
    Hầu hết các tàu chiến của Mỹ thuộc hạm đội Thái Bình Dương thường xem căn cứ hải quân tại San Diego là nhà, biến nơi đây trở thành căn cứ hải quân lớn nhất trên Bờ Tây nước Mỹ.
"Ngự" trên diện tích rộng khoảng 1.720 hécta, căn cứ Hải quân Norfolk chiếm khu bến cảng dài khoảng 6km và khu bến tàu-cầu tàu trải dài trên 11km trên bán đảo Hampton Roads, thường được biết đến với cái tên Swell's Point. Đây là căn cứ hải quân lớn nhất thế giới, phục vụ cho 75 con tàu và 134 máy bay dọc theo 14 bến tàu và 11 nhà chứa máy bay, và là nơi tập trung đông nhất các lực lượng của hải quân Mỹ. 
   Nhiệm vụ của căn cứ này là hỗ trợ và sẵn sàng cho các hoạt động tiếp tế hậu cần cho Hạm đội Đại Tây Dương của Mỹ. Nơi đây cung cấp các hải cảng, các sân bay, phi đội bay, các dịch vụ phục vụ cuộc sống của nhân viên quân sự và những dịch vụ quản lý nhân sự.
  Căn cứ Norfolk là nơi neo đậu của các hàng không mẫu hạm, tuần dương hạm, khu trục lớn-nhỏ, các tàu đổ bộ, tàu ngầm, tàu tiếp viện quân nhu, các máy bay. Các phục vụ trên cảng chịu trách nhiệm kiểm soát hơn 3.100 lượt tàu thuyền ra vào mỗi năm.

Về hoạt động trên không, mỗi năm có hơn 100.000 chuyến bay bắt đầu từ đây, tức là trung bình mỗi ngày có 255 chuyến bay cất cánh - hay cứ 6 phút một chuyến. Hơn 150.000 hành khách và 264.000 tấn thư từ và hàng hóa khởi hành mỗi năm trên các chuyến bay của Bộ chỉ huy Hàng không Lưu động hay trên các chuyến bay thuê từ sân bay của Căn cứ Hải quân Norfolk.Đây cũng là trung tâm tiếp liệu  của Hải quân Mỹ phục vụ các hoạt động chiến trường của Bộ Tư lệnh Trung tâm và châu Âu, và cả đến vùng Caribbean.

Bạn có thể đến thăm căn cứ này bắt đầu từ Trung tâm Thông tin và Du lịch Hải quân đặt ở 9079 Hampton, đích thân người của lực lượng hải quân sẽ lái xe buýt đưa du khách thăm thú các HKMH, tàu khu trục, tàu ngầm, tàu tấn công đổ bộ.
TỔNG HỢP
__._,_.___
Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (1)
Recent Activity:
CỰU ĐẠI TƯỚNG NORMAN SCHWARZKOPF QUA ĐỜI
tka23 post
H. Norman Schwarzkopf, Jr. ("Stormin' Norman"; sinh vào năm 1934) là Đại tướng Tư lệnh Bộ tư lệnh Trung Đông, Quân đội Hoa Kỳ (1988-1991).
 

 Tiểu sử

H. Norman Schwarzkopf tốt nghiệp thủ khoa trường Thiếu sinh quân Valley Forge (Valley Forge Military Academy) năm 1952. Ông là một trong 5 sinh viên sĩ quan toàn quốc được nhận vào trường Võ bị Quốc gia Hoa Kỳ West Point qua chương trình tuyển sinh dạnh dự quân đội (military honor appointment) dành cho các học sinh xuất sắc của các trường thiếu sinh quân tại Hoa Kỳ.

1956 tốt nghiệp trường Võ bị Quốc gia Hoa Kỳ West Point, ra trường ông chọn binh chủng Nhảy dù.
1957 được bổ nhiệm Đại đội phó của đại đội E, chiến đoàn 2/187, sư đoàn 101 Nhảy dù, và thăng cấp Trung úy cùng năm.
1959 bổ nhiệm Trung đội trưởng Trinh sát, Sư đoàn 6 Bộ binh Hoa Kỳ.
1960 bổ nhiệm Tùy viên quân sự cho Đại tướng Charles E. Johnson III, Bộ Tư lệnh Berlin.
1961 được thăng cấp Đại úy, và theo học khoá huấn luyện chiến thuật bộ binh cao cấp (advanced infantry tactics course) tại Fort Benning, Georgia.
1962-1964 được tuyển chọn theo học và tốt nghiệp bằng Cao học Kỹ thuật Hỏa tiễn Điều không (guided missle engineering) tại Đại học USC.
1964 được tuyển vào ban giảng huấn Võ bị Quốc gia Hoa Kỳ và trở lại West Point giảng dạy.
1965 tình nguyện sang Việt Nam, phục trong Đội 162, Bộ Tư lệnh Yểm trợ Quân sự Việt Nam (MACV Team 162). Đội 162 gồm các cố vấn thuộc binh chủng Nhảy dù Hoa Kỳ, và được bổ nhiệm về Tiểu đoàn 7 Nhảy dù, Lữ đoàn Nhảy dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
1965-1966 tham chiến trong các trận Pleiku, Đức Cơ, Ia Drang, Bồng Sơn, Tam Kỳ; là cố vấn trưởng cho Trung tá Ngô Quang Trưởng trong chiến dịch Ia Drang năm 1966 và được thăng cấp Thiếu tá; được tưởng thưởng 2 Anh dũng Bội tinh với ngôi sao sao bạc và 3 Anh dũng Bội tinh với ngôi sao đồng.
1967 trở lại West Point giảng dạy ngành bộ binh.
1968 được tuyển chọn theo học khóa Tham mưu Trung cấp (Command and General Staff College) tại Fort Leavenworth, Kansas và được thăng cấp Trung tá cùng năm.
1969, tình nguyện trở lại Việt nam, và được bổ nhiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/6, Lữ đoàn 198, Sư đoàn 23 Bộ binh Hoa Kỳ.
1970 trở lại Hoa Kỳ và phục vụ trong tại Phòng 1 Bộ Tổng tham mưu Quân lực Hoa Kỳ, Khối Bộ binh, tại Ngũ Giác Đài.
1972 được tuyển chọn vào Trường Cao đẳng Lục quân Hoa Kỳ (US Army War College) .
1974 được thăng cấp Đại tá, và được bổ nhiệm Lữ đoàn phó Lữ đoàn 172 Bộ binh thuộc Bộ Tư lệnh Alaska.
1976 được bổ nhiệm Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1, Sư đoàn 9 Bộ binh và thăng cấp Chuẩn tướng.
1978 được bổ nhiệm Chỉ huy phó Phòng 3 Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương (U.S. Pacific Command).
1980 được bổ nhiệm Tư lệnh phó Sư đoàn 8 Bộ binh Thiết vận (8th Mechanized Infantry Division).
1983 được thăng cấp Thiếu tướng và được bổ nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 24 Bộ binh Thiết vận (24th Mechanized Infantry Division), thuộc Quân đoàn 18 Nhảy dù (XVIII Airborne Corps), Bộ Tư lệnh Trung Đông Quân lực Hoa Kỳ (US Central Command).
1984, được bổ nhiệm Tư Lệnh phó Chiến Đoàn đặc nhiệm thủy bộ đổ bộ vào Grenada giải cứu các con tin Mỹ. Sau chiến dịch Grenada được thăng cấp Trung tướng.
1986 được bổ nhiệm Quân đoàn trưởng Quân đoàn I, với bộ tư lệnh tại Fort Lewis, Washington.
1987 được bổ nhiệm Tham mưu phó Lục quân (Army's Deputy Chief of Staff).
1988 được thăng cấp Đại tướng và nhận chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trung Đông Quân lực Hoa Kỳ.
1991 chỉ huy lực lượng Đồng Minh trong chiến Tranh vùng Vịnh (Gulf War) và trong vòng 4 ngày, đánh tan toàn bộ quân đội Iraq, bắt sống hơn 60.000 tù binh, giải tỏa Kuwait. Với chiến công vùng Vịnh, được nhận rất nhiều huy chương của quân lực Mỹ và các nước đồng minh, gồm Anh, Pháp, Mỹ, và một số nước Trung Đông. Sau chiến thắng, từ chối không nhận chức vụ Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ và về hưu cùng năm.
BKTT
__._,_.___
Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (1)
Recent Activity:

Thursday, December 27, 2012

CUỘC CHIẾN ẤN ĐỘ VÀ TRUNG CỘNG 1962

TRUNG CÔNG TẤN CÔNG BIÊN GIỚI ẤN BẰNG BIỂN NGƯỜI - THẾ LỰC VŨ BÃO- TRONG VÒNG MỘT THÁNG- ẤN ĐỘ CẦU CỨU - KHÔNG QUÂN HOA KỲ - HKMH MỸ ÁP SÁT BỜ BIỂN ẤN - TRUNG CỘNG ĐƠN PHƯƠNG RÚT LUI -
TƯƠNG TỰ CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI VIỆT TRUNG- NGA LẬP CẦU KHÔNG VẬN NAM BẮC VN - ĐIỀU ĐỘNG LỰC LƯỢNG DỌC BIÊN GIỚI NGA TRUNG - TRUNG CỘNG ĐƠN PHƯƠNG RÚT KHỎI VN  
CUỘC CHIẾN ẤN ĐỘ  VÀ TRUNG CỘNG 1962
tka23post
Mọi quan hệ giữa Ấn Độ và Trung cộng đều bị chi phối bởi vấn đề biên giới vẫn chưa giải quyết từ hơn 50 năm nay. Trung công và Ấn Độ giáp biên giới trên 3 550 cây số, được phân cách bởi dãy núi Himalaya hiểm trở và vùng cao nguyên Tây Tạng
  . Trong nhiều thế kỷ, Tây Tạng là vùng đệm giữa hai nước. Sau khi Trung cộng chiếm Tây Tạng năm 1950, hai vùng đệm hiện nay là hai nước Nepal và Bhutan, nằm ở phía nam dãy Himalaya.
  Ba khu vực ngày nay vẫn là điểm nóng của sự xung đột giữa Ấn Độ và Trung cộng: Aksai Chin ở tụ điểm của biên giới ba nước Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc, Arunacha Pradesh, ở sát biên giới Đông Bắc của Ấn Độ và Kashmir, ở Tây Bắc Ấn Độ.
Aksai Chin hiện thuộc quyền Trung cộng  Ấn độ đang đòi lại.
Ngược lại, Arunachal Pradesh
 
là một tiểu bang của Ấn Độ nhưng Trung cộng lại coi là thuộc về Tây Tạng và đòi Ấn Độ trả lại. Kashmir là vùng tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakistan, mỗi bên chiếm một nửa và đòi bên kia phải trả phần còn lại. Mâu thuẫn giữa Ấn Độ và Trung cộng ở Kashmir là vì Trung cộng ủng hộ Pakistan.
Trong những thế kỷ trước Trung cộng và Ấn Độ rất ít quan hệ vì địa lý cản trở. Khi hai nước giành độc lập và thoát khỏi ách ngoại bang vào cùng thời điểm, những đường biên giới do các nước thực dân ấn định trở thành đầu mối cho những xung đột có khi dẫn đến chiến tranh.
  Bản tuyên ngôn độc lập năm 1947 cũng chia cắt lãnh thổ Ấn Độ thành hai nước Pakistan và Liên bang Ấn Độ. Một sự phân chia đẫm máu: từ 300,000 đến 500,000 người bị thảm sát trong các cuộc chém giết lẫn nhau của hai cộng đồng hồi giáo và ấn độ giáo, và từ 10 đến 15 triệu người di cư từ vùng này sang vùng kia.
 
Sự chia cắt đất nước và ba cuộc Chiến tranh Ấn Độ - Pakistan tiếp nối nhau (1947-1948, 1965, 1971) để giành giựt vùng Kashmir vẫn là vết thương nhức nhối truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tại Ấn Độ. Việc Trung cộng ngay từ đầu và cho đến ngày nay luôn là đồng minh đắc lực của Pakistan chỉ có thể thêm một ung nhọt cho quan hệ đã căng thẳng giữa hai nước.
  Trung cộng cũng không ngần ngại dùng Pakistan để áp lưc Ấn Độ ngay cả những lúc hai bên vui vẻ với nhau nhất: ngay sau khi viếng thăm Ấn Độ tháng 11 năm 2006Hồ Cẩm Đào bay sang Pakistan, như để nhắc lại một trong những điểm bất di bất dịch của đường lối ngoại giao mình. Chính sách "tay đấm tay xoa" này cũng thể hiện qua việc đại sứ Trung cộng tại Ấn Độ Sun Yuxi, chỉ một tuần trước khi ông Hồ Cẩm Đào sang, tuyên bố: "Quan điểm của chúng tôi là toàn bộ tiểu bang Arunachal Pradesh thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Chúng tôi đòi lại tất cả." Khiến cho bộ trưởng ngoại giao Ấn Độ Pranab Mukherjee phải đối đáp lại: " Arunachal là một bộ phận của Ấn Độ".
Mâu thuẫn giữa Trung cộng và Ấn Độ trong vùng Kashmir cũng không chỉ vì Pakistan mà còn vì một khu vực hai bên trực tiếp tranh giành nhau.
   Aksai Chin là một vùng đất rộng 38,000 km², ở độ cao 5 000 thước, hoang vu và khô cằn, rất ít dân cư nhưng ở vị trí chiến lược giữa ba nước Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc.
 
 Aksai Chin ngày xưa thuộc về vương quốc Ladakh nhưng được sát nhập vào Ấn Độ thuộc Đế quốc Anh khi AnhTây Tạng (lúc ấy còn độc lập) ký hiệp ước năm 1904, ấn định biên giới giữa Tây Tạng và Ấn Độ theo đường ranh giới McMahon. Trung cộng lúc ấy không công nhận Tây Tạng là nước độc lập nên cũng không công nhận đường McMahon. Vì vị trí chiến lược của Aksai Chin, nằm trên quốc lộ 219 của Ấn Độ nối Tây Tạng và tỉnh Tân Cương, Trung cộng nhất định giữ quyền kiểm soát khu vực này.
   Trung cộng cũng đòi lại một khu vực rộng khoảng 82,000km² ở Đông Bắc Ấn Độ hiện là tiểu bang Arunachal Pradesh nhưng Trung cộng thường gọi là Zangnan (Tạng Nam). Arunachal Pradesh có hơn 1 triệu dân, đại đa số gốc Tây Tạng, Miến Điệnngười Thái, chỉ khoảng 15% là di dân từ các vùng khác của Ấn Độ, đặc biệt là hai tiểu bang lân cận AssamNagaland.
   Tại hội nghị Simla năm 1913-1914, thống đốc Anh Sir Henry McMahon ấn định biên giới giữa Ấn Độ và Tây Tạng theo một đường ranh giới mệnh danh là "đường McMahon" (McMahon Line) nhằm nới rộng vùng kiểm soát của Anh và tạo ra một số vùng đệm. Các đại diện Anh và Tây Tạng tại hội nghị  qua đường ranh giới này nhưng Trung cộng  chối từ ký hiệp định vì khẳng định Tây Tạng thuộc chủ quyền của mình và đường McMahon vô giá trị. Năm 1950, thấy Trung cộng sửa soạn chiếm Tây Tạng, Ấn Độ đơn phương ấn định biên giới theo đường McMahon tuy Trung cộng phản đối. Trong hơn 10 năm sau đó, vấn đề lắng dịu nhờ không khí hoà hoãn giữa hai nước, nhưng bùng lên trở lại với cuộc chiến tranh biên giới Ấn-Trung năm 1962. Trung cộng kéo quân sang chiếm đa số khu vực này nhưng sau khi tuyên bố chiến thắng, rút trở lại sau đường McMahon.

 Diễn biến trước khi Trung  cônộ tấn công

Tháng 6 năm 1962Ấn Độ thành lập một tiền đồn ở Dohla trên sườn phía nam của Thagla. Thagla nằm ở phía bắc của đường McMahon nhưng lại nằm ở phía nam rặng núi mà Ấn Độ giải thích rằng đường McMahon đã thể hiện. Vào tháng tám Trung cộng đã ban hành các phản đối ngoại giao và bắt đầu chiếm các vị trí ở Thagla, vào ngày 8 tháng 9 (PLA) đã cử 60 đơn vị mạnh chiếm một số vị trí quan trọng ở phía nam sườn núi.
Những bài viết của báo chí Ấn Độ nói rằng họ không được thông báo gì về điều đó nhưng Thủ tướng Nehru đã trấn an giới truyền thông rằng quân đội đã được lệnh "có thể hành động tự do trên lãnh thổ của mình"và quân đội đã đưa ra quyết định sử dụng vũ lực.
   Ngày 11 tháng 9, giới truyền thông đã được phía quân đội cho biết rằng " tất cả các cuộc tuần tra của quân đội đã được lệnh nổ súng lên bất kỳ lực lượng  nào của Trung cộng xâm nhập vào lãnh thổ Ấn Độ".
Tuy nhiên các hoạt động để chiếm Thagla theo chỉ thị của Nehru rõ ràng là đã được thực hiện rất chậm vì mỗi người lính Ấn phải mang 35 kg hành lý trên một chặng đường rất dài làm cho kế hoạch này bị chậm trể thời điểm tiểu đoàn Ấn Độ đến địa điểm của cuộc xung đột thì các đơn vị TQ đã kiểm soát cả hai bờ sông .
   Ngày 20 tháng 9, quân đội Trung cộng  ném lựu đạn vào binh lính Ấn Độ và một vụ đọ súng đã lan rộng,  gây ra một loạt các vụ xung đột kéo dài đến hết tháng 9.
Ngày 3 tháng 10, Chu Ân Lai viếng thăm Nehru ở Newdelhi hứa hẹn sẽ không có chiến tranh, ngày 4 tháng 10, Kaul (chỉ huy quân đội Ấn tại Thagla) được giao một số lực lượng giữ an ninh ở phía nam Thagla, Kaul quyết định việc đầu tiên là phải giữ  an toàn cho Yumtso La, một vị trí chiến lược quan trọng trước khi lấy lại các vùng thuộc Dhola đã bị mất. Một thời gian sau đó Kaul đã nhận ra rằng các cuộc tấn công sẽ là tuyệt vọng và chính phủ Ấn Độ phải cố gắng để ngăn chặn chiến sự có thể leo thang thành một cuộc chiến toàn diện. Ông hài hước nói rằng quân đội Ấn Độ đã đị du lịch đến Thagla trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt mà trước đó họ chưa từng trải qua, hai quân nhân trong đơn vị của ông đã chết vì bệnh sưng  phổi.
   Ngày 10 tháng 10, một đội tuần tra 50 quân Punjab của Ấn Độ đến Yumtso La đã gặp một đơn vị quân đội Trung cộng khoảng 1000 binh sỹ, quân đội Ấn Độ dã không có được vị trí chiến đấu tốt, ở Yumtso La với độ cao khoảng 16.000 feet (4.900 m) trên mực nước biển, không có hỗ trợ của pháo binh. Quân Trung cộng đã nổ súng vào đơn vị tuần tra của Ấn Độ  đang ở phía bắc của đường McMahon, quân Ấn Độ bị bao vây bởi các đơn vị Trung cộng, họ tổ chức cuộc tấn công đầu tiên gây thương vong nặng nề cho binh lính Ấn Độ.
  Đến lúc  quân Ấn đã ở một vị trí có thể đẩy lui quân Trung cộng với súng cối và súng máy,tuy nhiên chuẩn úy Dalvi chọn phương án không đánh tiếp vì có nhiều binh sỹ Ấn hy sinh,họ chăm chú theo dõi quân Trung cộng chuẩn bị cho một cuộc tiến công thứ hai. Quân Ấn Độ bắt đầu rút lui khi nhận thấy tình hình trở nên vô vọng. Đội tuần tra Ấn 25 binh sỹ bị thương vong con số này phía Trung Quốc là 33, quân Trung cộng đã tổ chức cứu chữa các binh sỹ của họ khi người Ấn rút lui sau dó chôn cất người chết. Đây là lần đầu tiên có sự xuất hiện của vũ khí chiến đấu hạng nặng.
Cuộc tấn công này đã có tác động nghiêm trọng đối với Ấn Độ và Nehru cố gắng để giải quyết vấn đề. Ngày 18 tháng 10, đã được mô tả rõ ràng Trung cộng đang chuẩn bị cho một cuộc tấn công vào Ấn Độ. Một đường dài các con la và phu khuân vác đã được quan sát thấy đang tham gia vận chuyển và củng cố các vị trí quân sự phía nam núi Thagla.

 Trung cộng  chuẩn bị

Hai yếu tố chính dẫn đến xung đột của Trung cộng với Ấn Độ là :
  • Lập trường của Ấn Độ về tranh chấp biên giới.
  • Trung cộng muốn lật đổ chế độ thân Ấn ĐộTây Tạng.
  • Trung cộng muốn làm suy yếu, trừng phạt và kết thúc những nỗ lực của Ấn Độ kiểm soát Tây Tạng, những nỗ lực đó có mục tiêu là khôi phục lại Tây Tạng như trước năm 1949.
Một nhận thức khác là "Trung cộng muốn trừng phạt Ấn Độ vì đã xâm lược lãnh thổ Trung cộng dọc theo biên giới". John W. Garver lập luận rằng những nguyên nhân đầu tiên có thể là không chính xác, tuy nhiên nguyên nhân thứ hai theo cách nói của ông là "đáng kể và chính xác".
Một yếu tố khác ảnh hưởng tới quyết định của Trung cộng trong cuộc chiến tranh với Ấn Độ là để ngăn chặn một sự bao vây của Liên Xô-Mỹ-Ấn Độ cô lập Trung cộng.
  Quan hệ của Ấn Độ - Liên XôHoa Kỳ đã được cải thiện mạnh mẽ vào thời gian này, Trung cộng  đã tính toán thời điểm Liên Xô bị sa vào cuộc khủng hoảng hỏa tiển  tại Cuba sẽ không thể can thiệp vào chiến tranh Trung - Ấn.       
      Thực tế cho thấy rằng Trung cộng  đã tính toán chính xác. Trong thời gian chiến tranh, song song với những hành động quân sự, Trung cộng vẫn quan sát hành động của người Mỹ để tránh bất kỳ sự tham gia nào của MỹLiên Xô vào cuộc chiến khi Mỹ và Liên Xô đã tập trung các lực lượng của họ xung quanh Cuba.
Trong ngày diễn ra đụng độ lớn đầu tiên tại Dohla diễn ra vào ngày 20 tháng 10 trùng khớp chính xác với việc Hoa Kỳ huy động một cuộc phong tỏa chống Cuba cũng vào ngày 20 tháng 10. Garver lập luận rằng  Trung cộng đánh giá một cách chính xác các chính sách biên giới của Ấn Độ đặc biệt là chính sách chuyển tiếp, ông lập luận rằng một trong những yếu tố chính dẫn đến quyết định của Trung cộng chiến tranh với Ấn Độ là vấn đề Tây Tạng. Nghiên cứu từ Trung cộng xuất bản vào những năm 1990 xác nhận rằng nguyên nhân sâu xa là sự cảm nhận về một cuộc xâm lược của Ấn Độ ở Tây Tạng, với chính sách chuyển tiếp đơn giản là tạo chất xúc tác cho các phản ứng của Trung cộng. Các lãnh đạo Trung cộng tin rằng họ đã bảo vệ lãnh thổ mà họ cho rằng hợp pháp mà theo thực tế Trung cộng đã chiếm đóng trước và coi chính sách chuyển tiếp tại Ấn Độ nhằm mục đích dần dần sát nhập Tây Tạng về mình.
  Mao Trach Đông tự so sánh chính sách chuyển tiếp của Ấn Độ như là một nước đi chiến lược trong bàn cờ Trung cộng.
Ông nói "nước đi của họ (ý nói Ấn Độ) tiếp tục đẩy về phía trước như những quân cờ qua sông thì chúng tôi phải làm gì? chúng tôi cũng có thể đặt ra một vài con cờ về phía sông của chúng tôi.Nếu họ không vượt qua thì đó là tuyệt vời,nếu họ vượt sông chúng tôi sẽ diệt chúng.Tất nhiên chúng tôi sẽ không diệt chúng một cách mù quáng,thiếu sự kiên nhẫn trong những vấn đề nhỏ sẽ làm rối loạn một kế hoạch lớn".
Các động cơ của chính sách chuyển tiếp là để cắt đứt các  đường tiếp tế cho quân đội Trung cộng trong vùng Aksai Chin. Theo lịch sử Ấn Độ chính sách tiến về phía trước được tiếp tục là do những thành công ban đầu của nó,nó cho rằng quân đội TC rút lui khi họ gặp phải các khu vực đã bị chiếm đóng bởi quân đội Ấn Độ. Nó cũng cho rằng chính sách chuyển tiếp đã thành công trong việc cắt giảm các đường cung cấp của quân đội Trung cộng tiến đến phía nam của đường McMahon.
Tuy nhiên chính sách chuyển tiếp ngủ quên trên giả định là Trung cộng "không có khả năng sử dụng vũ lực chống lại bất kỳ lực lượng nào của chúng tôi ngay cả khi họ đã ở một vị trí có thể làm như vậy".Đã không có đánh giá lại nghiêm túc chính sách này. Nehru tự tin là sự khó khăn của Trung cộng để cung cấp cho khu vực tranh chấp trên địa hình núi cao với khoảng cách dài hơn 5000 km từ đó tới khu vực đông dân cư của Trung cộng.
Đến đầu năm 1962, lãnh đạo Trung cộng bắt đầu lo sợ rằng Ấn Độ dự định khởi động một cuộc tấn công lớn chống lại quân đội Trung cộng và rằng giới lãnh đạo Ấn Độ muốn có một cuộc chiến tranh.
Năm 1961, quân đội Ấn Độ được gửi tới thành Goa một khu vực nhỏ thuộc địa của Bồ Đào nha không có biên giới quốc tế với nước nào khác ngoài Ấn Độ, sau khi Bồ Đào Nha từ chối trả thuộc địa này lại cho Ấn Độ.
  Mặc dù hành động này đã gặp ít hoặc không có kháng nghị quốc tế và của phe đối lập, Trung cộng đã nhìn thấy nó như là một ví dụ về tính chất bành trướng của Ấn Độ. Bộ trưởng Ấn Độ tuyên bố "nếu Trung cộng không rút khỏi các khu vực chiếm đóng Ấn Độ sẽ phải lặp lại những gì đã làm ở Goa, Ấn độ chắc chắn sẽ đánh đuổi các lực lượng Trung cộng". Trong khi một thành viên khác trong một kỳ đại hội tại Ấn Độ đã phát biểu "Ấn Độ sẽ thực hiện các bước để kết thúc sự xâm lược của Trung Quốc trên đất Ấn Độ cũng giống như đã kết thúc sự xâm lược của Bồ Đào Nha ở Goa".
Đến giữa năm 1962, các lãnh đạo Trung cộng nhận thấy rõ ràng rằng các cuộc đàm phán đã không đạt được bất kỳ tiến bộ nào và chính sách chuyển tiếp ngày càng được nhận thức như là một mối đe dọa nghiêm trọng. Dehli ngày càng gửi quân thăm dò sâu hơn vào các đường biên giới và cắt đứt các đường cung cấp của Trung cộng. Nguyên soái Trần Nghị nhận xét tại cuộc họp cấp cao nhất giữa hai chính phủ "chính sách chuyển tiếp của Nehru là một con dao mà ngài muốn đặt nó trong tim của chúng tôi
  .Chúng tôi không thể nhắm mắt của chúng tôi lại và chờ đợi cái chết", các lãnh đạo Trung cộng tin rằng những hạn chế của họ về mặt địa lý đã được phía Ấn Độ coi là điểm yếu dẫn đến hành động,  khiêu khích tiếp tục và rằng một chính sách quân sự là cần thiết để ngăn chặn sự xâm lược của Ấn Độ.
Xu Yan, giáo sư lịch sử quân sự Trung cộng và là giáo sư đại học quân sự quốc phòng quốc gia tham vấn cho quyết định của lãnh đạo Trung cộng để đi đến chiến tranh. Đến cuối tháng 9 năm 1962, lãnh đạo Trung cộng đã bắt đầu xem xét lại chính sách chuyển tiếp, vấn đề Tây Tạng và quyết định về một cuộc tấn công lớn.
Các lãnh đạo Trung cộng lúc đầu tiên có được một cái nhìn thiện cảm đối với Ấn Độ đã từng là thuộc địa của Anh. Tuy nhiên chính sách chuyển tiếp của Nehru thuyết phục các lãnh đạo Trung công rằng các lãnh đạo giành độc lập của Ấn Độ là hóa thân của chủ nghĩa đế quốc Anh. Vì vậy chính phủ Ấn Độ phải được dạy một bài học khó quên, Mao Trạch Đông đã nói "thay vì liên tục bị cáo buộc xâm lược tốt hơn hết hãy để cho thế giới biết những gì xảy ra khi Trung cộng  thực sự chuyển động ".

 Ấn Độ lập kế hoạch quân sự

Phía Ấn Độ tin tưởng chiến tranh sẽ không được nổ ra và chuẩn bị ít, Ấn Độ chỉ có hai sư đoàn trong khu vực xung đột. Trong tháng 8 năm 1962, du kích Palit tuyên bố rằng một cuộc chiến tranh với Trung cộng trong một tương lai gần có thể được loại trừ. Ngay cả trong tháng 9 năm 1962 khi quân đội Ấn được lệnh "trục xuất người Trung cộng " khỏi Thagla, thiếu tá JS Dhillon bày tỏ ý kiến cho rằng "kinh nghiệm ở Ladakh đã chỉ ra rằng một vài viên đạn bắn vào người Trung cộng sẽ gây ra sự sợ hãi cho họ để họ chạy đi" bởi vì điều này quân đội Ấn Độ đã hoàn toàn không được chuẩn bị khi cuộc tấn công tại Yumtso La xảy ra.
Gần đây, giải mật tài liệu của CIA được biên soạn vào thời điểm đó cho thấy Ấn Độ ước tính các khả năng của Trung cộng  làm cho họ bỏ bê quân sự để tập trung tăng trưởng kinh tế. Nếu Nehru có nhiều hơn những tướng quân sự cùng chí hướng thì Ấn Độ sẽ có nhiều khả năng sẵn sàng đối phó với một cuộc tấn công xuất phát từ Trung cộng.
Ngày 6 tháng 10 năm 1962, lãnh đạo Trung cộng triệu tập cuộc họp,Lâm Bưu báo cáo rằng các đơn vị tình báo PLA đã xác định rằng quân đội Ấn Độ có thể tấn công các vị trí của Trung cộng tại Thagla vào ngày 10 tháng 10 ( chiến dịch nón rơm) .Các lãnh đạo Trung cộng và hội đồng quân sự trung ương quyết định khởi động một cuộc tấn công quân sự quy mô  để trừng phạt sự xâm lược từ Ấn Độ. Tại Bắc Kinh, một cuộc hop lớn hơn của quân đội Trung cộng đã được triệu tập để lập kế hoạch cho cuộc xung đột sắp tới.
Mao Trạch Đông và các lãnh đạo Trung cộng đã ban hành một chỉ thị đặt ra mục tiêu cho cuộc chiến tranh. Một cuộc tấn công chính sẽ diễn ra tại khu vực phía đông phối hợp với một cuộc tấn công nhỏ hơn ở khu vực phía tây. Tất cả quân đội Ấn Độ trong lãnh thổ mà Trung cộng tuyên bố chủ quyền ở phía đông sẽ bị trục xuất, chiến tranh sẽ kết thúc với một thỏa thuận ngừng bắn đơn phương, Trung cộng sẽ thu hồi các vị trí trước chiến tranh, tiếp theo là quay trở lại bàn thương lượng.
Ấn Độ là lãnh đạo Phong trào không liên kết, Nehru với uy tín quốc tế lớn và Trung cộng với một quân đội lớn hơn có thể sẽ được miêu tả như là một kẻ xâm lược. Tuy nhiên Mao Trạch Đông nói rằng một cuộc chiến tranh "sẽ  ít nhất là 30 năm hòa bình với Ấn Độ" và xác định các lợi ích để bù đắp chi phí.
Ngày 8 tháng 10, các đơn vị đã bổ sung các cựu binh ưu tú từ Thành đô (Tứ xuyên) và quân khu Lan Châu để chuẩn bị di chuyển vào Tây Tạng.
Ngày 12 tháng 10, Nehru tuyên bố rằng ông đã ra lệnh cho quân đội " bảo vệ lãnh thổ Ấn Độ trước sự tấn công của quân xâm lược Trung cộng".
Ngày 14 tháng 10, một bài xã luận trên Nhân dân nhật báo ban hành cảnh báo cuối cùng của Trung Quốc với Ấn Độ "có vẻ như ông Nehru đã  quyết tâm  để tấn công  biên giới Trung cộng  trên một quy mô lớn hơn" rằng quân đội Trung cộng không bao giờ có thể để bất cứ ai xóa được truyền thống đó trong việc bảo vệ lãnh thổ của riêng mình, nếu vẫn còn một số người liều lĩnh bỏ qua các lời khuyên của chúng tôi thì đây là một dịp thử tốt, lịch sử sẽ phán quyết tại thời điểm lịch sử quan trọng này,  chúng tôi vẫn muốn cảnh cáo một lần nữa tới ông Nehru: Hãy kềm chế tốt hơn khi hai bên đã ở bên bờ vực của chiến tranh và không nên sử dụng cuộc sống của binh lính quân đội Ấn Độ như là các con bài trong canh bạc của ông".
Nguyên soái Lưu Bá Thừa đứng đầu một nhóm để xác định chiến lược cho cuộc chiến,ông kết luận rằng việc chống lại quân đội Ấn độ một cách tốt nhất và để đạt được chiến thắng sẽ yêu cầu quân đội  tập trung lực lượng để đạt được chiến thắng quyết định.
Ngày 16 tháng 10, kế hoạch chiến tranh này đã được thông qua và ngày 18 đã được Quốc vụ viện phê duyệt cho một phản công tự vệ vào ngày 20 tháng 10 năm 1962.

 Trung cộng mở chiến dịch tấn công

Ngày 20 tháng 10 năm 1962 quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) phát động hai cuộc tấn công trên một chiều dài hơn 1000 km từ đông sang tây, ở phía đông PLA đã tìm cách chiếm hai bờ sông Chu Namka. Một số xung đột cũng diễn ra tại đèo Nathula bang Sikkim (một vùng thuộc sự bảo hộ của Ấn Độ vào thời điểm đó). Pháo binh Trung cộng đã dội bão lửa vào quân Ấn Độ, sau bốn ngày chiến đấu ác liệt ba trung đoàn của quân đội Trung cộng đã thành công đáng kể trong việc chiếm một phần lãnh thổ tranh chấp.
Tại các khu vực tranh chấp ở phía đông quân Trung cộng phát động cuộc tấn công lên bờ nam của sông Chu Namka, ngày 20 tháng 10 các lực lượng Ấn Độ chỉ điều tới một tiểu đoàn để bảo vệ trong khi quân Trung cộng  có ba trung đoàn. Về phía bắc của sông lực lượng Trung cộng dự trù sẽ vượt qua năm cầu bắc qua sông để bảo vệ những giao cắt, tuy nhiên các lực lượng PLA đã bí mật lợi dụng lúc sông đang cạn, nước nông vào tháng 10 để bơi qua. Họ thành lập ra từng tiểu đoàn bí mật dọc theo bờ sông mỗi tiểu đoàn được giao chống lại một nhóm riêng biệt của quân đội Ấn Độ.
Lúc 05h14' bão lửa pháo binh Trung cộng bắt đầu tấn công các vị trí của Ấn Độ, đồng thời cắt đường dây điện thoại của Ấn Độ, ngăn ngừa các lực lượng phòng thủ liên hệ với sở chỉ huy của họ, vào khoảng 6h30' bộ binh Trung cộng đã phát động một cuộc tấn công bất ngờ từ phía sau và buộc các lực lượng địa phương Ấn Độ phải rời khỏi chiến hào của họ.
Quân đội Trung cộng tràn ngập  toàn bộ phía nam của đường McMahon từ Chu Namka. Sợ tổn thất tiếp tục nhiều binh lính quân đội Ấn Độ đã trốn thoát vào Bhutan,lực lượng Trung cộng dừng lại ở biên giới Butan không đuổi theo, bây giờ Trung cộng  đã chiếm lại được tất cả các lãnh thổ tranh chấp tại Thagla, nhưng họ vẫn tiếp tục tiến vào phần còn lại của NEFA.
Ngày 22 tháng 10 lúc 0h15' PLA bắn súng cối vào Walong trên đường McMahon,lúc 4h PLA bắt đầu bắn vào những trận địa pháo của Ấn Độ. Pháo binh của quân đội Ấn Độ bị thiệt hại nhiều xung quanh thung lũng, ngày hôm sau người Ấn đã cố gắng dùng súng cối của họ chống lại Trung cộng, các cuộc đụng độ của quân Trung cộng với các lực lượng địa phương Ấn Độ kết quả hơn 200 binh sỹ Trung cộng  chết và bị thương, các lực lượng Ấn Độ cũng chịu thương vong nặng nề.
Ngày 23 tháng 10 quân đội Trung cộng  đã phát động cuộc tấn công chia làm 3 mũi trên Tawang ,quân Ấn Độ đã rút lui mà không có kháng cự nào.

 Khu vực phía tây

Các khu vực lãnh thổ tranh chấp ở phía tây, PLA đã tìm cách trục xuất các lực lượng Ấn Độ từ thung lũng Chip Chap ở Aksai Chin, vùng này đã bị Trung cộng kiểm soát hầu hết. Lực lượng Trung cộng nhanh chóng truy quét các khu vực còn lại của quân đội Ấn Độ. Cuối ngày 19 tháng 10 quân đội Trung cộng  đưa ra một loạt trận tấn công trên khắp miền tây, đến ngày 22 tháng 10 tất cả các khu vực của bắc Chushul đã bị chiếm.
Ngày 20 tháng 10, Trung cộng  dễ dàng lấy Chip Chap Valley, Galwan ValleyPangong, nhiều tiền đồn và đơn vị đồn trú đã không thể chống lại quân Trung cộng  bao vây . Hầu hết các đơn vị quân đội Ấn Độ đã kháng cự nhưng đều bị thiệt mạng hoặc bắt làm tù binh. Ấn Độ hỗ trợ cho các vị trí tiền tiêu này không hiệu quả một ví dụ chứng minh là khu vực Galwan vốn đã bị bao vây bởi các lực lượng đối phương từ tháng 8 mọi nỗ lực để phá thế bị bao vây đều không có kết quả nên sau cuộc tấn công ngày 20 tháng 10 Galwan đã thất thủ.
Ngày 24 tháng 10, các lực lượng Ấn Độ đã chiến đấu để giữ Rezang La Ridge, họ cố gắng ngăn chặn một phi đạo  ở gần đó rơi vào tay quân Trung cộng.
kết quả quân Trung cộng  chết và bị thương 1000 binh sỹ, con số này phía Ấn Độ là chết 109 người. Sau các cuộc tấn công này phía Ấn Độ đã cho rút nhiều tiền đồn bị cô lập về phía đông Nam đường ranh giới nơi mà quân Trung cộng  chưa đến  được để củng cố lực lượng đề phòng quân Trung cộng  tấn công tiếp.

 Tiếp tục chiến tranh

Sau khi nhận được thư từ chối của Nehru các trận chiến lại tiếp tục nổ ra, Ngày 14 tháng 11 (ngày sinh nhật của Nehru) quân đội Ấn Độ dưa quân vào Walong tấn công vị trí phòng thủ của Trung cộng  tại Sela gây nhiều thiệt hại về người cho phía Trung cộng , đáp lại phía Trung cộng  tấn công tại Aksai Chin, ngày 17 tháng 11 PLA tấn công sư đoàn 4 của Ấn Độ bảo vệ SeLa và Bomdi La thay vì tấn công trực diện quân Trung cộng  đi vòng theo đường núi cắt đứt một tuyến đường chính dẫn tới Sela cô lập 10.000 quân Ấn Độ tại đây.
Trên mặt trận phía tây ngày 18 tháng 11 PLA phát động cuộc tấn công lớn của bộ binh, lúc 4h35' lợi dụng lúc sương mù dày đặc quân Trung cộng  tiến chiếm  mục tiêu ,tới 5h45' lúc sương mù tan họ tràn lên tấn công 2 trung đội quân Ấn Độ phòng thủ tại Gurung Hill, quân Ấn Độ bị bất ngờ, thông tin bị cắt khiến họ không thể gọi pháo binh hỗ trợ nên đến 9h họ buộc phải rút lui. Tại Rezang quân Trung cộng  bị tấn công bởi 118 quân Ấn Độ, lúc 5h05' quân Trung cộng  phản công súng máy của họ bắn vào các trận địa phòng thủ của Ấn Độ. Lúc 6h55 mặt trời mọc trên 8 trung đội quân Trung cộng  tiếp tục tấn công, 10 phút sau trận chiến kết thúc, do không được tiếp tế  đầy đủ nên quân Ấn Độ chịu thất thủ,phía Trung cộng  cho phép phía Ấn Độ chôn cất người chết theo một tang lễ theo kiểu nhà binh, quân Ấn Độ buộc phải rút về các vị trí trên núi cao, quân Trung cộng  tuyên bố ngưng bắn chấm dứt đổ máu.
Phía Ấn Độ chịu thương vong nặng nề, rất nhiều quân nhân bị chết cóng, cơ thể vùi trong băng giá đông cứng lại với vũ khí trong tay, phía Trung cộng  cũng bị thương vong nặng nề đặc biệt là tai Rezang La, chiến tranh kết thúc ở Aksai Chin nhưng Trung cộng  đã đạt được mục tiêu  của họ, binh lính Ấn Độ đã rút khỏi khu vực. Phía Trung cộng  nói rằng quân Ấn Độ còn muốn tiếp tục chiến đấu nữa tuy nhiên họ nên rút lui để tránh thêm thương vong.
PLA thâm nhập ngoại ô Tezpur Asam một thị trấn nằm cách biên giới 50 km về phía đông bắc, chính quyền địa phương đã ra lệnh di tản thường dân, các nhà tù được mở,các cơ sở vật chất bị phá hủy, ngoại tệ được mang đi để khỏi rơi vào tay người Trung cộng .

 Ngưng bắn

Sau chiến tranh Trung-Ấn bản đồ vùng tranh chấp Kasmir đã bị sửa đổi, Trung cộng  thông báo Aksai Chin đã thuộc Trung cộng  quản lý phía Trung cộng  đã đạt được yêu cầu vì vậy PLA đã không tiến xa hơn, ngày 19 tháng 11 Chu Ân Lai tuyên bố đơn phương ngừng bắn, lệnh ngừng bắn bắt đầu vào nửa đêm 20 rạng sáng ngày 21 tháng 11 năm 1962. Người phát ngôn của Chu Ân Lai nói rằng bắt đầu từ 21/11 binh lính Trung cộng  sẽ ngừng bắn trên dọc tuyến biên giới Trung Quốc-Ấn Độ, quân đội Trung Quốc sẽ lùi về phía sau 20 km tính từ đường kiểm soát thực tế đã tồn tại từ ngày 7 tháng 11 năm 1959. Ở phía đông TC đã lấy lại 20 km kể từ đường ranh giới McMahon mà họ cho rằng bất hợp pháp,ở phía tây TC sẽ thu hồi 20 km kể từ đường kiểm soát ranh giới như thực tại.
Chu Ân Lai tuyên bố ngừng bắn còn một nguyên nhân khác, đó là:
   Ngày 19 tháng 11 phía Ấn Độ yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ bằng không quân, các hkmh Mỹ được lệnh áp sát bờ biển Ấn Độ nhưng do 24h sau đó Trung cộng  đã tuyên bố đơn phương ngừng bắn để tránh sự can thiệp của Mỹ,các hkmh được lệnh quay trở lại,một cuộc đối đầu Trung-Mỹ đã được tránh. Mặc dù còn một số đụng độ lẻ tẻ diễn ra do một số nơi ở Aksai Chin chưa nhận được lệnh ngừng bắn nhung nhìn chung không bên nào muốn tiếp tục chiến sự, thực tế cuộc chiến đã kết thúc.
  Vào cuối cuộc chiến tranh, Ấn Độ tăng cường hỗ trợ cho những người tị nạn Tây Tạng, một số họ đã định cư tại Ấn Độ, Ấn Độ huấn luyện cho ( các lực lượng vũ trang Tây Tạng) nhằm chống lại một kẻ thù chung là Trung cộng, cũng kể từ đây CIA bắt đầu hoạt động nhằm mang lại sự thay đôi chính quyền tại Tây Tạng.
TỔNG HỢP
__._,_.___
Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (1)
Recent Activity: