Friday, January 24, 2014



On Friday, January 24, 2014 9:50 AM, qtran <qtran@ec.rr.com> wrote:
 
HỒ SƠ MẬT 1963
Từ Các Nguồn Tài Liệu Của Chính Phủ Mỹ
Nhóm Thiện Pháp thực hiện
Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications, USA 2013
http://sachhiem.net/images/nha.jpg30-Dec-2013
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgoQQGpQ7ZA57CSLyEPHYLLClzr5SsF70Rl_tTKlcZyTluDmqyXQ2S4jw8diQJt0sYnZ2yQTCwTNtKsNIfKOrEKp82Zgt4mpfik2CWPkxENodkXey9niOVKlCA2_le426CBhkfKmxBNY_OP/s320/Cover_HS1963_Front.jpg
  
LỜI GIỚI THIỆU
Tập sách Hồ Sơ Mật 1963 - Từ các nguồn Tài liệu của Chính phủ Mỹ nầy ra đời có hai mục đích:
Thứ nhất là để giới thiệu với quảng đại độc giả một nguồn tài liệu tham cứu của chính phủ Mỹ, ký tự là FRUS, vốn khá quen thuộc với giới nghiên cứu nhưng lại vẫn còn xa lạ với độc giả Việt Nam bình thường khi muốn tìm hiểu về những biến động lịch sử trong thập niên 1960’ của nước ta.
Thứ nhì là thông qua nguồn tài liệu đó để trình bày một số phát hiện mới, vốn không được đa số giới nghiên cứu người Việt hải ngoại khai thác và phổ biến, thậm chí còn bị một số “nhà bình luận” xuyên tạc và ngộ nhận, về những gì đã thực sự xảy ra tại miền Nam Việt Nam trong năm 1963.
Do đó, từ “Mật” trong tiêu đề tập sách là chỉ để cho quảng đại độc giả chưa biết đến, hoặc có biết đến nhưng không chịu sử dụng, nguồn tài liệu nầy mà thôi. Từ nay, hy vọng rằng mọi độc giả đều có thể tiếp cận trực tiếp nguồn FRUS để bổ túc cho những nhận định của mình được trung thực và chính xác hơn.
-- o0o --
Tập sách nầy gồm 26 tài liệu, trong đó hơn 80%, 21 tài liệu, là của chính phủ Mỹ. Những văn bản nầy của chính phủ (Công điện, Bản Ghi nhớ, Điện tín, Phúc trình, …) gồm 12 tài liệu, hơn 57%, đã là của Bộ Ngoai Giao Mỹ dưới ký tự viết tắt FRUS. 9 tài liệu còn lại là của Tòa Bạch Ốc (Cục An Ninh Quốc Gia NSA), Bộ Quốc Phòng (Pentagon Papers), CIA (tại Sài Gòn và tại Langley), và từ Thượng Viện (Select Committee to Study Governmental Operations).
Còn 5 tài liệu không có nguồn gốc từ chính phủ Mỹ là Phúc trình A/5630 của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc; một đoạn trong Death of A Generation của Howard Jones vốn là một tác phẩm cũng sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu của chính phủ Mỹ. Ngoài ra, còn có một trích đoạn trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng của Trung Tướng Trần Văn Đôn, kể lại đêm tổng tấn công chùa 20-8-1963 mà ông vừa là tác nhân vừa là chứng nhân khiến một tài liệu của CIA đã phải đặc biệt nhắc đến; và một bài viết kết luận tổng hợp của tác giả Tâm Diệu vềPhật giáo và cuộc Chính biến 1-11-1963 thông qua các tài liệu của chính phủ Mỹ.
Xin được có vài lời về lý do tại sao chúng tôi lại sử dụng đến hơn 57% tài liệu FRUS của Bộ Ngoại Giao Mỹ cho tập sách nầy.
FRUS, ký tự viết tắt của cụm từ Foreign Relations of the United States, là một tập hợp các tài liệu lịch sử chính thức liên hệ đến các quyết định quan trọng trong chính sách ngoại giao của Mỹ đã đƣợc giải mật và biên tập để công bố (The Foreign Relations of the United States series is the official documentary historical record of major U.S. foreign policy decisions that have been declassified and edited for publication). Những tài liệu nầy do Văn phòng Sử gia (Office of the Historian) thuộc Bộ Ngoại giao soạn thảo và chịu trách nhiệm xuất bản, và do Sở Ấn loát Chính phủ (Government Printing Office) in ấn phát hành. Tập hợp tài liệu đồ sộ nầy bắt đầu từ các biến cố ngoại giao từ thời chính quyền của Tổng thống Abraham Lincoln (1861) cho đến ngày nay.
Riêng tài liệu liên hệ đến Việt Nam duới nhiệm kỳ Tổng thống Kennedy thì gồm 4 Tập, phủ dài thời gian 3 năm từ 1961 đến 1963. Hai tập cuối cùng, Tập III và Tập IV, được phát hành vào năm 1991 và được phổ biến Online trong không gian Internet vào đầu thiên niên 2000.
Độc giả người Việt ở hải ngoại, ngay cả ở Mỹ, cũng ít nghe nói đến kho tài liệu đồ sộ và quý giá đã được giải mật khá đầy đủ và dễ dàng truy cập Online nầy. Chỉ một số nhà nghiên cứu nghiêm túc là biết từ rất sớm về FRUS và đã khai thác rất hiệu quả để tái khẳng định và/hoặc hiệu đính lại một số biến cố / luận điểm mà trong quá khứ đã không hoặc chưa đƣợc biểu đạt rõ ràng.
Xin đan cử trường hợp về hai bài viết có liên quan đến chế độ Ngô Đình Diệm chỉ vài năm sau khi FRUS được lên Online: Cách đây hơn 10 năm, trong bài viết Toàn Trị và Ngoại Thuộcvào tháng 5 năm 2003, giáo sư Cao Huy Thuần ở Pháp đã sử dụng 50 nguồn trích dẫn từ FRUS trong tổng số 53 cước chú của ông(1). ;Còn trong tiểu luận công phu Phiến Cọng trong Dinh Gia Long, hoàn thành vào tháng 8 cũng năm 2003, tiến sĩ Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu ở Mỹ đã sử dụng 49 tham chiếu từ FRUS trong tổng số 149 cước chú của ông(2).
Sở dĩ FRUS đạt được độ tin cậy khá cao, do đó mức sử dụng khá nhiều, trong các công trình nghiên cứu là vì ba lý do:
(i)   Nói chung, FRUS là những tài liệu mật hoặc tuyệt mật (TOP SECRET) được trao đổi giới hạn giữa một số ít giới chức hành pháp rất cao cấp của Mỹ. Nội dung của những tài liệu nầy thường được làm cơ sở hoặc công cụ để thiết lập chính sách hoặc kế hoạch hành động cấp quốc gia, nên độ trung thực và tính chính xác của tài liệu, dù có lợi hay có hại cho chính quyền Mỹ, đều luôn luôn đƣợc người soạn thảo tài liệu cố gắng giữ ở mức tối đa.
(ii)   Cơ chế vận hành Check and Balance (Kiểm soát và Quân bình) của chính phủ Mỹ [và sau nầy với việc ban hành Freedom of Information Act năm 1966 (Đạo luật về Quyền tự do tiếp cận Thông tin)] cho phép hai ngành Lập pháp và Tư pháp cũng như bất kỳ người dân nào, sớm hay muộn, cũng truy cứu được thông tin của chính phủ. Thậm chí nếu cần, có thể xin tòa án can thiệp (subpoena) để được tiếp cận tài liệu. Vì biết rõ và vì làm việc trong khung nguyên tắc đó từ lâu nên trong quá trình hình thành các tài liệu, giới chức chọn lựa và soạn thảo FRUS đã phải cố gắng tránh những sai lầm, sơ hở, tối nghĩa, lạc dẫn, suy đoán, thậm chí dối trá, … ở mức tối đa.
(iii)   Tinh thần và đạo đức học thuật của giới nghiên cứu Mỹ là khá cao, lãnh vực nghiên cứu là khá đa dạng, và tranh chấp học thuật thì gay gắt trên trường quốc tế. Do đó, những học giả luôn đòi hỏi các nguồn cung cấp tài liệu, dù trong hay ngoài chính phủ, dù lãnh vực an ninh quốc gia hay bất kỳ lãnh vực nào, cũng phải duy trì một mức độ chuyên nghiệp trong các tài liệu để họ có thể tin tưởng sử dụng. Trong lãnh vực bang giao quốc tế có liên hệ đến Mỹ, FRUS là công cụ làm việc của giới nghiên cứu nên cũng phải chuyên nghiệp ở mức tối đa.
Đó ít nhất là những lý do vì sao FRUS có độ khả tín khá cao. Do đó, một cách cụ thể, công trình nghiên cứu nghiêm túc nào về quan hệ Việt-Mỹ trong thập niên 1960‘ mà không tham chiếu FRUS thì cũng là điều thiếu sót. Nhưng dĩ nhiên chúng ta cũng không ngây thơ đến độ tin tưởng hoàn toàn bất kỳ thông tin nào của FRUS mà không đối chiếu với các nguồn thông tin khác và/hoặc đặt chúng trước quy trình phân tích chặt chẽ và chọn lọc khắt khe. Dù sao thì FRUS cũng đáng tin cậy và cần tham cứu để sử dụng, nhất là khi so sánh với những “nguồn tài liệu” khác rất đáng nghi ngờ, nhưng lại thường được đa số những “bình luận gia” người Việt cả trong lẫn ngoài nước, nhất là ở hải ngoại, sử dụng để “đầu độc chính trị” nhau nhiều hơn là để trình bày sự thật.
Một cách cụ thể, chúng tôi xin cung cấp hai đường link sau đây để độc giả có thể truy cập tất cả tài liệu FRUS liên quan đến quan hệ Việt-Mỹ trong năm 1963:
1- FRUS 1961-1963, Volume III: Vietnam January - August 1963:
2- FRUS 1961-1963, Volume IV: Vietnam August - December 1963:
-- o0o --
Năm 1963 là năm có đầy đủ triệu chứng của một chế độ toàn trị đang ở hồi cuối cùng của quy trình hủy diệt. Đại sứ Trần Văn Chương, thân phụ của bà Nhu, là ngƣời đầu tiên dùng cụm từ “toàn trị” để xác định đặc tính chính trị của chế độ Diệm(3).
Để hiểu rõ hơn về biến cố 1963, ta cần nắm bắt ba giai đoạn phân chia cuộc đời chính trị của ông Ngô Đình Diệm:
Trước 1954, ông là một chính khách trôi nổi trong cuộc chiến Pháp-Việt, bị kẹt giữa chính sách của Hội Truyền giáo Hải ngoại (MEP) và truyền thống phục vụ nền đô hộ Pháp của gia đình nên ông đã không xả thân chống Pháp quyết liệt như các nhà cách mạng đương thời. Khi thì làm quan Nam Triều nên Việt Minh ghét ông, khi thì theo Nhật nên Tây muốn bắt ông, khi thì ẩn mình trong tu viện, khi thì “bao năm từng lê gót nơi quê người”, không uy tín, không lực lượng ngoại trừ một nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo bản địa ủng hộ. Quốc tế không biết đến ông, lại vốn không có gốc rễ trong quần chúng nên ông không có một hoạt động nào có tác động đáng kể vào cuộc vận động giải thực gian khổ của toàn dân.
Đây là giai đoạn ông Diệm có thể có Tâm nhưng chắc chắn không có Tài, ai theo ông cũng được, không theo ông cũng chẳng sao. Ông chỉ là một “chính khách xa lông” như ta thường gọi.
Giai đoạn thứ nhì là từ 1954 đến 1959: Đó là lúc Mỹ thay Pháp tham dự vào thế cờ Đông Dương để xây dựng một tiền đồn chống lại chiến lược bành trướng của Cọng sản Quốc tế tại châu Á. Ông may mắn có hai yếu tố mà các chính khách Việt Nam đương thời không có: Mỹ Vatican. Ông cũng may mắn có ông anh Giám Mục quen biết với lãnh tụ số một của Công giáo Mỹ trong thời kỳ đó. Cho nên ông được cường quốc Mỹ hỗ trợ thay thế Bảo Đại của Pháp. Ba “bà mụ” chăm sóc để hóa thân ông thành “phép lạ” của Mỹ là Hồng y Francis Spellman, Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield, và Ngoại trưởng John Foster Dulles(4). Với hai thế lực quốc tế và bảo chứng của vị vua triều Nguyễn, ông về nước, “phất cờ” và được hầu như toàn dân miền Nam ủng hộ để xây dựng miền Nam mà chống Cọng. Quân viện và kinh viện, nhân sự và văn hóa của Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam, giúp ông vượt qua mọi trở ngại để thành lập nền Cọng hòa. Lãnh đạo miền Bắc vừa phải chờ gần hai năm để Tổng Tuyển cử, lại vừa bận lo chữa vết thương chiến tranh sau 9 năm đánh Pháp, nên miền Nam được tạm ổn, thanh bình và trù phú. Ông làm Tổng thống của một nền Cọng hòa non trẻ, là một lãnh tụ không giỏi nhưng gặp thời và được hai thế lực đỡ đầu hết lòng yểm trợ, nên thực hiện được nhiều thành tích tại miền Nam.
Trong giai đoạn 5 năm nầy, ông Diệm là người có thể vừa có Tâm vừa có Tài, nhưng quan trọng hơn cả là ông được thời thế, ai là người muốn xây dựng miền Nam để chống Cọng thì phải ủng hộ ông. Ông là một ông quan phụ mẫu chi dân tuyệt vời trong một chế độ dân chủ khập khiểng.
Giai đoạn cuối là từ năm 1960 với những bước ngoặt oan trái, hệ quả của nền cai trị độc tài của ông mấy năm trước và của bản chất phong kiến gia đình trị, tổng hợp chất Thiên Chúa giáo Trung cổ và quan lại Tống Nho của văn hóa gia tộc ông. Năm 1960, chánh sách nội trị của ông phạm nhiều sai lầm nên bị chính quân dân miền Nam chống đối. Từ đầu năm, nhóm trí thức Bắc di cư trong báo Tự Do công khai tố cáo hành động đục khoét miền Nam của gia đình họ Ngô với bức tranh 5 con chuột trên bìa báo Xuân Canh Tý. Tiếp theo là thảm bại của Sư đoàn 13 tại Trảng Sập (Tây Ninh) vào ngày 26/1 dù lực lượng chính phủ đông và mạnh hơn. Đến tháng 4, nhóm 17 nhân sĩ trí thức và một linh mục (trong đó có 11 người đã từng là chiến hữu hoặc cọng tác viên cũ của ông Diệm) thuộc nhóm Tự Do Tiến Bộ ra Tuyên ngôn (tại khách sạn Caravelle) tố cáo tình trạng độc tài, tham nhũng, kém hữu hiệu và đòi ông thay đổi nhân sự cũng như chính sách. Tháng 11, các sĩ quan chỉ huy binh chủng Nhảy Dù cùng nhiều nhân vật đảng phái quốc gia tập họp trong Liên Minh Dân Chủ và Mặt trận Quốc gia Đoàn kết đã phát động cuộc binh biến, đánh thẳng vào dinh Độc Lập, đòi ông Diệm cải tổ toàn diện cơ cấu lãnh đạo quốc gia để xây dựng lại chính nghĩa và nâng cao hiệu năng chiến đấu của quân dân miền Nam. Tháng 12, Hà Nội cho ra đời và công khai hóa Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, làm điểm tụ lực để thu hút quần chúng bất mãn hầu tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang, thách thức tính chính thống của Việt Nam Cọng Hòa trên cả hai mặt quốc tế và quốc nội. Nhưng 5 biến cố đó cũng không tác hại sâu sắc bằng tình trạng kể từ năm 1960, hai ông bà Ngô Đình Nhu bắt đầu khuynh loát rồi cuối cùng khống chế trung tâm quyền lực quốc gia ở Dinh Gia Long, từ từ đẩy ông Diệm vào vai trò thứ yếu trong công việc quản trị miền Nam. Ông làm Tổng thống như một vua Lê bù nhìn bên (ông bà) chúa Trịnh lộng quyền.
Đây là giai đoạn chót, ông Diệm mất đi cả cái Tâm lẫn cái Tài, nhưng vẫn cùng gia đình cao ngạo bám vào ghế lãnh đạo quốc gia nên hại nước hại dân, vì vậy ai là người có trí và có lòng thì cũng phải chống ông. Từ người hùng của thời thế, ông Diệm trở thành tội nhân của lịch sử. Đó có phải là nhiệm ý Thiên Chúa chăng?
Vì cái năm bản lề 1960 nhiều biến động đó mà những năm sau, miền Nam bắt đầu suy thoái, chịu đựng hết cuộc khủng hoảng nầy đến cuộc khủng hoảng khác:
Thật vậy, năm 1961, trong lúc nền kinh tế quốc gia vẫn còn phụ thuộc nặng nề vào kinh viện Mỹ(5) thì tình hình an ninh hầu như bị suy sụp một cách đáng quan ngại, nhất là ở nông thôn, nơi Việt Cọng kiểm soát 80%(6) đến nỗi ngày 10-10-1961, ông Diệm phải ban bố “tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.”(7) Và hai tháng sau, ngày 7-12-1961, ông Diệm đã gửi thư cho Tổng thống Kennedy xin tăng thêm viện trợ vì “Việt Nam Cọng Hòa đang phải đối đầu với một thảm họa lớn nhất trong lịch sử(8). Qua năm 1962, sáng ngày 27 tháng 2, hơn một năm sau “Đảo chánh Nhảy dù”, hai sĩ quan của một binh chủng khác của quân đội lại hành động: Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử đã bay 2 chiếc Skyrider A-1 ném bom Napalm và bắn rocket vào dinh Độc Lập với mục đích tiêu diệt toàn bộ lãnh đạo đầu não của Đệ Nhất Cọng hòa. Trong khi đó thì ngoài chiến trường, các đơn vị vũ trang của Việt Cọng bắt đầu thách thức quân lực VNCH trên cả 4 Quân khu, đánh chiếm nhiều đồn bót, pháo kích vào các quận huyện ven thủ đô Sài Gòn. Đặc công của họ còn dám đặt chất nổ tại các thành thị và bắt cóc các viên chức của chế độ(9). Tình trạng an ninh khẩn trương đến nỗi ngày 31-3-1962, ông Diệm đã phải gửi thông điệp cho 92 quốc gia trên thế giới yêu cầu ủng hộ VNCH chống cuộc xâm lăng của Cọng sản(10). Như vậy, “Sau sáu năm trời làm một thứ Quốc trưởng không ai lay chuyển nổi, Diệm vẫn bất an. Sự ủng hộ của nhân dân phai lạt, quân đội không thể chiến đấu theo lối chiến tranh cách mạng của Việt Cộng, còn kinh tế quốc gia hầu hết hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ Mỹ(11). Và, cuối cùng, năm 1963 định mệnh cũng đến!
Trong năm 1963 đó, những biến cố dồn dập khuấy động một miền Nam hừng hực lửa. Những biến cố nầy là do hệ quả tích lũy từ các nguyên nhân các năm trước hoặc được khởi động đột biến ngay trong chính năm 1963: Từ thảm bại Ấp Bắc đến Phúc trình Mansfield (đặt câu hỏi căn bản rằng “Chúng ta có thể thắng Cọng sản với Diệm không?”); từ cuộc đấu tranh rồi bị đàn áp của Phật giáo đến hành động quyên sinh của văn hào Nhất Linh; từ rạn nứt quan hệ với Mỹ đến những tiếp xúc thỏa hiệp với Hà Nội; từ gần 10 âm mưu đảo chánh của các sĩ quan trung cấp ngay đầu năm 1963 đến chính ông Nhu cũng dự định đảo chánh ông Diệm trong kế hoạch Bravo I để thay ông Diệm… Tất cả như những ngọn sóng, trùng trùng điệp điệp đan bện vào nhau đổ ụp xuống chế độ ông Diệm vào ngày 1-11-1963. Và vào sinh mạng hai anh em ông ngày 2-11-1963.
Phật giáo hay không Phật giáo, Quân đội hay không Quân đội, Mỹ hay không Mỹ, cuối cùng thì nhân nào quả nấy. Và lịch sử sang trang. Phải sang trang…
-- o0o --
Nhiều tài liệu đã đề cập đến những ngày xao động của năm 1963. Trong tập sách nầy, thông qua các nguồn tài liệu Mỹ mà chủ yếu là từ FRUS, chúng tôi chỉ muốn cung cấp thêm một số dữ kiện do người Mỹ phát hiện nhưng không được đông đảo người Việt Nam biết đến. Sau đây là vài ví dụ:
- Trong vụ nổ súng tại Đài Phát thanh Huế ngày 8-5-1963, lúc đầu, binh sĩ chính quy được lệnh đàn áp đám đông Phật tử nhưng họ từ chối. Do đó, cuối cùng, chính địa phương quân của Thiếu tá Đặng Sỹ đã nổ súng và ném lựu đạn. (FRUS 1961-1963, Vol. III, Doc. 116).
- Ngày 3/6/1963 tại Huế, sinh viên và đồng bào tại Huế biểu tình và đã bị quân đội phun hóa chất để giải tán (FRUS 1961-1963, Vol. III, Doc. 146 và 147).
- Tướng Lê Văn Kim là tướng lãnh đầu tiên đề cập với ngƣời Mỹ, ông Rufus Phillips của USOM, về ý định của quân đội sẽ loại bỏ ông Nhu nếu Mỹ có cùng một thái độ cứng rắn như thế. Bộ trưởng Quốc phòng Nguyễn Đình Thuần và Chánh Văn phòng Phủ Tổng thống Võ Văn Hải cũng muốn Mỹ tỏ thái độ muốn loại bỏ ông Nhu. (Pentagon Papers trích dẫn FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274).
 - Tướng Trần Văn Đôn cho người Mỹ biết giữa ông Diệm và bà Nhu không có quan hệ xác thịt nhưng ông Diệm xem bà Nhu như một người vợ lý tưởng thuần khiết (platonic wife) như Hitler đối với Eva Braun, và ông Diệm đã từng thăng chức cho một người làm vườn tại Đà Lạt từ Trung sĩ lên Trung tá chỉ vì người nầy trắng trẻo đẹp trai (FRUS 1961-1963, Vol I I I, Doc. 275).
 - Việc ông Nhu lừa dối các tướng lãnh khi cho Lực Lượng Đặc Biệt giả danh quân đội tấn công các chùa tại Sài Gòn đêm 20/8/1963 khiến cả Mỹ lẫn dân chúng Việt Nam lên án quân đội, đã là một bước ngoặt mạnh mẽ khiến Quân đội dứt khoát muốn loại bỏ ông Nhu hơn. (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274).
 - Từ năm 1962, sau cuộc đảo chánh của Nhảy Dù và vụ oanh kích của 2 Phi công, và trước khi xảy ra vụ Phật giáo, Mỹ đã đánh giá là miền Nam sẽ bị nhuộm đỏ vì gia đình họ Ngô đa nghi, kém hiệu quả và mất lòng dân (FRUS 1961-1963, Vol II, 1962, Doc. 268).
- Sau cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, ngày 25/6, ông Nhu đã nói thẳng với người Mỹ rằng ông chống đối ông Diệm, và chính phủ hiện tại phải bị loại bỏ. Ông Nhu trình bày điều nầy trong một tình trạng xúc động cao độ (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 256).
- Một đội cảnh sát đặc biệt của bà Nhu được thành lập và do ngƣời em của bà là Trần Văn Khiêm chỉ huy. Ông Khiêm đã cho một ký giả người Úc xem một danh sách các viên chức Mỹ tại Sài Gòn mà ông đang lên kế hoạch ám sát (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc. 68).
- Nhiều quan chức Việt Nam cho biết quyền lực thực sự nằm trong tay ông Nhu, ông Diệm chỉ là “búp bê” của ông Nhu. Cả hai ông Nguyền Đình Thuần và Võ Văn Hải đều xác nhận ông Nhu hút thuốc phiện từ hai năm rồi. Trạng thái tâm thần hoảng loạn của ông Nhu hiện rõ khi ông tuyên bố chỉ có ông mới cứu được Việt Nam. (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc.110).
- Bà Trần Văn Chương, thân mẫu của bà Nhu, gọi bà Nhu là “đồ quỷ” (monster), ông Nhu là “hung nô” (barbare), ông Diệm là “kẻ bất tài” (incompetent). Còn ông Trần Văn Chương, Đại sứ VNCH tại Mỹ, thì bàn thảo với các nhà hoạt động để thành lập một chính phủ lưu vong để lật đổ nhà Ngô (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc.118).
- Khoản tiền 42,000 Mỹ Kim đã do CIA trao trước đó để dùng mua thực phẩm cho chiến binh VNCH và dùng làm tiền tử tuất cho gia đình tử sĩ trong cuộc binh biến 1-11-1963. Tướng Dương Văn Minh hai lần điện thoại tới ông Diệm, đề nghị hai anh em Diệm-Nhu đầu hàng sẽ được an toàn xuất ngoại. Ông Diệm hai lần từ chối. (Phúc Trình Thượng Viện Hoa Kỳ Số 94-465).
- Vân vân…
Đó chỉ là vài ví dụ. Xin bạn đọc từ từ đọc hết 26 tài liệu…
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Chính biến 1-11-1963, chúng tôi hy vọng tập sách nầy sẽ là một nhắc nhở đến những độc giả muốn tìm hiểu lịch sử Việt Nam thời cận đại một điều ai cũng đã biết, rằng trong tình trạng nhiễu loạn thông tin và nhiễu nhương thế sự hiện nay, hiểu được và đánh giá đúng một sự kiện thì thật là khó khăn.
Trân trọng,
Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications
P.O. Box 4805
Garden Grove, CA.92842-4805
U.S.A.
________________
CƯỚC CHÚ:
(1) Bài được đăng trên Diễn Đàn Forum số 129, xuất bản tại Paris vào tháng 5 năm 2003 và được Thư Viện Hoa Sen đăng lại: http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-135_4-17521_5-50_6-1_17-55_14-1_15-1/  
(2) Bài được đăng trên Tạp chí Hợp Lưu tại California vào tháng 8 năm 2003 và đượcViệt-Studies đăng lại: http://www.viet-studies.info/kinhte/PhienCongDinhGiaLong_HopLuu.pdf  
(3) FRUS 1961-1963, Tập III, Memo của Forrestal gửi Harriman ngày 8-3-1963.
(4) Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History. New York: Frederick A. Praeger, 1968.
(5) Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62; và Frances Fitzgerald, Fire in the Lake, tr. 101-104.
(6) Robert Scigliano, Vietnam, A Country At War.
(7) Sắc lệnh số 209-TTP của Tổng Thống Phủ - Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quênĐại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(8) Marvin E, Gettlemen, Vietnam History, Documents and Opinionsm và Đoàn Thêm,Những ngày Chưa quên, Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(9) Stanley Karnow, Vietnam, A History, New York: King Presss, 1983.
(10) Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên, Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(11) Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62.
 
MỤC LỤC
● LỜI GIỚI THIỆU (trang 7)
● PHẦN I - CUỘC VẬN ĐỘNG BÌNH ĐẲNG TÔN GIÁO NĂM 1963 CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1- FRUS III (9-5-1963): Các điện văn trao đổi giữa Huế, Sài Gòn và Washington (trang 21)
2- CIA (11-5-1963): Báo cáo cho Tổng thống Mỹ về cuộc thảm sát tại Huế năm 1963 (trang 39)
3- FRUS III (1-8-1963): Tấn công Hóa học ở Huế (trang 43)
4- Pentagon Papers (20-8-1963): Chiến dịch Tổng tấn công chùa đêm 20-8-1963 và các hệ quả(trang 49)
5- Trần Văn Đôn / Việt Nam Nhân Chứng (20-8-1963): Cuộc tấn công các Chùa đêm 20-8-1963(trang 70)
6- FRUS III (24-8-1963): CIA - Cuộc nói chuyện bí mật của Tướng Trần Văn Đôn (trang 76)
7- Bộ Ngoại giao (24-8-1963): Điện văn tối mật số 243 ngày 24-8-1963 (trang 92)
8- FRUS III (24-8-1963): Điện văn 274, Chiến dịch tấn công chùa (trang 99)
9- Liên Hiệp Quốc (7-12-1963): Bản Phúc trình của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc (trang 105)
10- Liên Hiệp Quốc (7-12-1963): Phúc trình Liên Hiệp Quốc A/5630 đã kết luận như thế nào?(trang 109)
● PHẦN II – TÌNH HÌNH CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM TRONG NĂM 1963
1- FRUS II (1/1962): Nhiều ngàn Sĩ quan VNCH cải đạo để tiến thân (trang 125)
2- CIA (10-7-1963): Bản đánh giá Tình báo Quốc gia đặc biệt (trang 132)
3- FRUS II (16-8-1962): Năm 1962, Mỹ đã thấy mất Việt Nam (trang 153)
4- FRUS III (16-8-1963): Ngô Đình Nhu muốn thay thế ông Diệm làm Tổng thống (trang 170)
5- Howard Jones / Death of A Generation: Ngô Đình Nhu thương thuyết với Hà Nội (trang 181)
6- FRUS IV (6-9-1963): Điện văn 68 ngày 6-9-1963, Nhu thiết lập danh sách nhân viên Mỹ sẽ bị ám sát (trang 204)
7- FRUS IV (15-9-1963): Mỹ thấy lính và dân Việt Nam phẩn nộ (trang 210)
8- FRUS IV (16-9-1963): Điện văn 118 – Thân phụ và thân mẫu bà Nhu kêu gọi lật đổ nhà Ngô(trang 219)
9- FRUS IV (26-9-1963): Bộ trưởng Quốc phòng McNamara viết từ Sài Gòn: Diệm Nhu đàn áp toàn dân (trang 224)
10- FRUS IV (7-10-1963): Vua Lê Ngô Đình Diệm và Chúa Trịnh Ngô Đình Nhu (trang 232)
11- Tòa Bạch Ốc / Cục An Ninh Quốc Gia (11-10-1963): Mỹ đã thấy mất Việt Nam từ cuối năm 1961 (trang 244)
12- Thượng Viện Hoa Kỳ (30-10-1963): Áp lực giờ chót của Mỹ đòi hủy bỏ cuộc lật đổ nhà Ngô(trang 261)
● PHẦN III – VÀI TÀI LIỆU TỔNG HỢP
1- CIA (4/1966): Thích Trí Quang và Mục tiêu Chính trị của Phật giáo tại Nam Việt Nam (trang 271)
2- CIA (7/1966): Chính quyền Johnson nhìn lại biến cố 1963 (trang 310)
3- The Pentagon Papers (1/1969): Biến động Phật giáo từ 8-5 đến 21-8 năm 1963 (trang 314)
4- Tâm Diệu (10/2013): Phật giáo và cuộc Chính biến 1-11-1963 (trang 328)
Xin các nhà nghiên cứu liên lạc với Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications, PO Box 4805,Garden Grove, CA.92842-4805 để nhận ấn bản giấy.
Để đọc phiên bản điện tử, xin truy cập vào đường link:
 
Nguồn http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/12/ho-so-mat-1963-tu-cac-nguon-tai-lieu.html

__._,_.___
Attachment(s) from TCLAHAULA
2 of 2 Photo(s)
Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (3)
Recent Activity:

Thursday, January 16, 2014

[PhoNang] NHẬT BẢN NÊN TÁI VŨ TRANG HAY KHÔNG ?

anh truong
To anhtruong
Today at 3:55 PM
 
TRƯỚC SỨC MẠNH CỦA TRUNG CỘNG - NHẬT MUỐN CHỦ ĐỘNG TỰ VỆ - HƠN LÀ DỰA VÀO MỸ- NHẬT LUÔN LUÔN  TIỀM ẨN HIỂM NGUY CHO BẤT CỨ QUỐC GIA NÀO - MỸ BIẾT RÕ ĐIỀU NÀY.
NHẬT BẢN NÊN  TÁI VŨ TRANG HAY KHÔNG ?
tka23 post
 
 Nhật có thể tái vũ trang và chế tạo vũ khí hạt nhân, điều đó để quân bình sức mạnh với Trung cộng , nhưng đồng thời cũng dẫn tới chạy đua vũ trang  nguy hiểm trong khu vực.
Nhật quyết tâm  bảo vệ Senkaku
 Nhật có thể tái vũ trang và chế tạo vũ khí hạt nhân, điều đó có thể quân bình sức mạnh với Trung cộng , nhưng đồng thời cũng dẫn tới chạy đua vũ trang tiềm ẩn nguy hiểm trong khu vực.
Thủ tướng Nhật và cũng là lãnh tụ Đảng Dân chủ-Tự do cầm quyền Sinzo Abe đang có ý định  vận động đưa vào Hiến pháp Nhật Bản những điểm sửa đổi, bổ sung nhằm xây dựng ở nước này  có một quân đội đúng nghĩa.
Nhiều chính khách nhận định, những hạn chế lớn nhất đối với khả năng duy trì một  cơ cấu  quân sự của Nhật Bản là tình hình tài chính của đất nước khó khăn, chứ không phải là Hiến pháp. Các nhà nghiên cứu chính trị thiên về ý kiến, cái giá của việc đưa vào đạo luật gốc của đất nước những điểm sửa đổi, bổ sung một cách chính thức có thể sẽ quá cao, đặc biệt trên các mối quan hệ quốc tế. Trung cộng  và Hàn Quốc có thể hiểu  hành động  này như một cử chỉ không ôn hoà từ phía Nhật đối với họ.
Hơn nữa, Nhật Bản sẽ không thể giữ được lâu hơn danh hiệu “quốc gia theo chủ nghĩa hòa bình”, đã từng là một phần danh tiếng không thể tách rời của đất nước mặt trời mọc, và điều này có thể gây ra tác động bất ổn tới toàn bộ khu vực châu Á.
Nước Nhật và nhiệm vụ bảo vệ Senkaku
Chỉ ít ngày sau khi được tái cử chức Thủ tướng, ông Sinzo Abe đã khẳng định chủ quyền của Nhật Bản đối với chuỗi đảo nhỏ phía Đông Sekaku (Điếu Ngư theo cách gọi của Trung công ), mà hiện nay 2 siêu cường –Trung cộng  và Nhật Bản- đang tranh chấp. Ngoài ra, nước Nhật cũng đang ở trong tình trạng tranh chấp kéo dài hàng thế kỷ nay với Hàn Quốc hòn đảo mà người Nhật gọi là
 Takeshima, còn ở Hàn Quốc có tên Dokdo. Quần đảo Senkaku được coi là bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của nước Nhật cả về mặt lịch sử cũng như theo luật pháp quốc tế. Vấn đề chủ quyền lãnh thổ của các hòn đảo (quần đảo) chưa hề được nêu lên trước năm 1971 cho tới khi người ta nói về khả năng ở đó có những mỏ dầu. Từ thời điểm ấy chính quyền Trung cộng  và Đài Loan bắt đầu tuyên bố những yêu sách của họ đối với các vũng lãnh thổ này.
Về mặt địa lý quần đảo Senkaku bao gồm những hòn đảo nhỏ: Uotsuri, Katakodzima, Minamikodzima, Cuba, Taisho Okinokitaiva, Okinominamiva và Tobise. Khi phân chia những phần lãnh thổ của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ II, theo hiệp định hòa bình San Francisco, những đảo này được đặt dưới quyền quản trị của Hoa Kỳ. Chúng chỉ mới được trao trả cho người Nhật vào tháng 5/1972.
View Raw Image" jquery1389894606062="49">alt
Tàu tuần duyên Nhật chặn tàu cá Trung công xâm nhập khu vực Senkaku/Điếu Ngư.
Quần đảo Senkaku đã được các nhà địa chất và dân tộc học khảo sát rất kỹ lưỡng- kết quả cho thấy, lãnh thổ này chưa bao giờ thuộc quyền kiểm soát của Trung cộng. Văn phòng nội các Nhật đã ra một nghị quyết phù hợp với luật pháp quốc tế, chính thức sáp nhập quần đảo Senkaku vào tỉnh Okinawa, Nhật Bản. Trước thời điểm, khi chưa nảy sinh vấn đề khai thác các mỏ dầu ở thềm lục địa biển Đông Hải, chẳng ai quan tâm tới quần đảo này.
Nhật Bản sẽ tái vũ trang
Những nguyên nhân đích thực của sự căng thẳng giữa Nhật Bản và Trung cộng  là hậu quả của sự kình địch từ xưa. Cách đây chưa lâu, Phó thủ tướng Nhật Taro Aso đã tuyên bố rằng, chưa có ngày nào trong lịch sử 1.500 năm qua các mối quan hệ của Nhật Bản với Trung cộng  diễn ra hòa thuận. Hiện nay cuộc xung đột trở nên quyết liệt hơn bởi sự tăng trưởng kinh tế của Trung công  và dấu  hiệu suy thoái kinh tế ở Nhật Bản. Chủ nghĩa dân tộc ở những nước này là một yếu tố  cấu thành hệ thống tư tưởng và giới lãnh đạo phải chứng tỏ sự cứng rắn của mình trước các đối thủ.
View Raw Image" jquery1389915237250="49">altView Raw Image" jquery1389898063000="45">
Nhật có thể sẽ sửa hiến pháp, thay đổi chính sách quốc phòng theo hướng tái vũ trang đầy đủ cho quân đội. Ảnh: Tàu đổ bộ đệm khí  tập trận từ hkmh hải quân Nhật.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, nước Nhật cũng chưa khôi phục được hoàn toàn tính đồng nhất dân tộc của mình, ở chừng mực nào đó, nước này một lần nữa rơi vào tình huống khó xử trong việc lựa chọn đồng minh và đối thủ. Nhật Bản ở vào hoàn cảnh phải phân thân, cùng một lúc vừa có nhu cầu hành động như một nước lớn, vừa phải cố gắng tôn trọng những áp lực  của Mỹ.
Trong tương lai nước Nhật có thể tái vũ trang và chế tạo vũ khí hạt nhân của mình, điều đó có thể quân bình sức mạnh của nước này và Trung công , nhưng đồng thời cũng dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang  nguy hiểm trong khu vực. Hoặc là Nhật Bản có thể “kết thân” với Trung công , và bằng cách đó quay lưng lại với Mỹ. Bước đi như thế có thể làm thay đổi cán cân sức mạnh và giúp cho Trung cộng  chứ không phải Hoa Kỳ trở thành siêu cường bá chủ thế giới.
Về phía  Nhật Bản lẫn Hàn Quốc đều coi Mỹ là đồng minh thân cận nhất ở khu vực châu Á, có thể làm cân bằng ảnh hưởng đang gia tăng của Trung cộng .
Về Hàn Quốc, thì như đã nói ở trên, với nước này Nhật Bản cũng có sự xung đột  về hòn đảo mà phía Hàn Quốc gọi là Dokdo, còn người Nhật- Takesshima. Tổng thống Hàn Quốc đến thăm đảo này hồi năm ngoái đã gây ra làn sóng công phẫn chưa từng có của người Nhật. Các mối bang giao  xấu đi đã gây ra những hậu quả vật chất. Hàn Quốc hủy bỏ hợp đồng trao đổi với Nhật Bản các tin tức tình báo về Bắc Triều Tiên, mà người Mỹ cũng quan tâm. Còn nước Nhật thì đang cân nhắc vấn đề gia hạn thỏa thuận về trao đổi ngoại hối, mặc dù mỗi năm có khoảng 5 triệu du khách xuất- nhập cảnh giữa 2 nước, và các nhà lãnh đạo phải hóa giải được những bất đồng.
Hàn Quốc và Nhật Bản cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa thể đánh giá một cách thỏa đáng những hành động của các bên trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ II.  Điều này liên quan tới Hàn Quốc- bên cho rằng, Nhật Bản đã xin lỗi và đền bù chưa thỏa đáng trong vấn đề “phụ nữ Hàn Quốc bị binh lính Nhật bắt buộc làm nô lệ tình dục” trong thời gian Nhật Bản chiếm đóng Hàn Quốc. Gần đây hai Bộ trưởng ngoại giao Fumio Kishida và Yun Bin Xie đã hội đàm tại Bruney và hướng tới tương lai các mối quan hệ giữa 2 quốc gia. Đây là cuộc gặp đầu tiên như thế trong suốt 9 tháng căng thẳng.
Nhật Bản và Hàn Quốc ràng buộc lẫn nhau bởi những vấn đề mang tính toàn cầu, liên quan tới chương trình phát triển hỏa tiển và hạt nhân của Bắc Triều Tiên và sự gia tăng tiềm lực kinh tế và quân sự của Trung công. Trong khi đó Mỹ nỗ lực gây ảnh hưởng tới các mối quan hệ Nhật-Hàn. Trung cộng , theo hãng Reuter đưa tin, đã tuyên bố sẽ tham gia cuộc gặp gỡ cấp cao Nhật-Hàn với điều kiện Tokyo công nhận các đòi hỏi của nước này đối với quần đảo Senkaku. Vào tháng 7/2013, trong cuộc gặp 3 bên giữa các Bộ trưởng ngoại giao Nhật, Mỹ và Hàn Quốc, 3 nhà ngoại giao  đã khẳng định rằng, họ không chấp nhận việc Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân và kêu gọi thực thi những hành động để phi hạt nhân hóa CHDCND Triều Tiên.
Nhật đang tăng cường đóng mới các tàu chiến hiện đại và mua chiến đấu cơ tàng hình F-35 của Mỹ nhằm đối phó với các nguy cơ an ninh.
Hiện nay những nguyên tắc phòng vệ  của Nhật Bản tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ các đảo (quần đảo) và hải phận của mình ở phía Nam. Chính phủ nước này tuyên bố , để chống lại cuộc tấn công chiếm các đảo, Nhật Bản cần có một quân đội đúng nghĩa, nước này sẽ củng cố các lực lượng Hải quân và Không quân của mình bằng cách đóng mới và mua sắm các tàu ngầm, HKMH và cả những máy bay  thế hệ mới. 
Để nâng cao sức mạnh cho các lực lượng vũ trang của mình, Nhật Bản có thể phải “thắt lưng, buộc bụng” chặt hơn và tiết giảm nhiều khoản chi ngân sách khác. “Điều kỳ diệu về kinh tế” thời hậu chiến của nước Nhật chưa phải là lần cuối cùng dự trên sự giảm thiểu chi phí quân sự, và việc quân sự hóa Nhật Bản sẽ  tuỳ thuộcnền kinh tế nước này, đặc biệt là trong thời khủng hoảng- đang là một vấn đề lớn Nhật phải giải quyết.
                                                                                    Đỗ Ngọc Linh
 
Cựu Thẩm Phán Phan Quang Tuệ ứng cử Quốc Hội Mỹ
WALNUT CREEK, California - Cựu Thẩm Phán Phán Quang Tuệ vừa tuyên bố sẽ ra ứng cử chức dân biểu liên bang, Ðịa Hạt 11, của tiểu bang California, để “người Việt có một tiếng nói trên diễn đàn quốc tế.”
Trả lời phỏng vấn , ông Tuệ nói: “Tôi tin rằng người Việt chúng ta cần có tiếng nói ở diễn đàn quốc tế. Và Quốc Hội Hoa Kỳ chính là chỗ để người Việt chúng ta có thể thực hiện điều này. Ðó là lý do mà tôi quyết định ra ứng cử lần này.”

Cựu Thẩm Phán Phan Quang Tuệ sẽ ra ứng cử dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ trong cuộc bầu cử vào Tháng Mười Một năm nay.
Vị cựu thẩm phán gốc Việt tuyên bố tranh cử trong một buổi hội thảo, mà ông được mời làm diễn giả, được tổ chức hôm Thứ Ba, 14 Tháng Giêng, tại Walnut Creek Rotary Club, Walnut Creek, California.
Ðịa Hạt 11, nằm ở phía Ðông vịnh San Francisco, bao gồm toàn bộ hoặc một phần các thành phố Concord, Pleasant Hill, Walnut Creek, Orinda, Richmond, El Cerrito, San Pablo, Danville, Pittsburg...
Ðịa hạt này hiện do Dân Biểu George Miller (Dân Chủ) nắm giữ, nhưng hôm 13 Tháng Giêng, ông tuyên bố sẽ không ra tái ứng cử kỳ này.
Vị cựu thẩm phán tâm sự: “Thật ra, tôi đã suy nghĩ chuyện ra ứng cử từ lâu rồi. Tôi làm thẩm phán tòa di trú, và có thể làm bao lâu cũng được. Nhưng nếu về hưu sớm quá để ra ứng cử thì chưa được, còn về hưu trễ thì lớn tuổi quá. Thế là tôi quyết định về hưu ở tuổi 'lưng chừng.'”
“Thực ra, tôi về hưu là để 'tiếp tục' phục vụ cộng đồng, nhưng trong lãnh vực khác,” ông Phan Quang Tuệ nói thêm.
Cựu Thẩm Phán Phan Quang Tuệ năm nay 71 tuổi, có vợ và bốn người con trai, cùng với tám cháu nội.
Ông bà là cư dân của Danville từ năm 1995.
Ông đến Hoa Kỳ sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc năm 1975.
Trước năm 1975, ông là một luật sư thực thụ ở Việt Nam, nhưng khi sang Mỹ, ông trở lại trường và đậu bằng luật tại đại học Drake University, Des Moines, Iowa, và làm thẩm phán hành chánh (Hearing Officer) tại Bộ Lao Ðộng Iowa trong bốn năm. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm phụ tá bộ trưởng Bộ Tư Pháp Iowa năm 1987.
Năm 1988, ông và gia đình chuyển về California, và ông làm luật sư công tố cho Sở Di Trú Hoa Kỳ tại San Francisco cho đến năm 1993.
Từ năm 1993 đến năm 1995, ông làm thẩm phán hành chánh tại Hội Ðồng Kháng Án Bảo Hiểm Thất Nghiệp California.
Tháng Ba, 1995, ông được bổ nhiệm làm thẩm phán di trú tại tòa di trú San Francisco cho tới khi nghỉ hưu vào Tháng Mười Hai, 2012.
__._,_.___
Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (1)
Recent Activity:

Tuesday, January 14, 2014

From: thien nguyen
To: dao
Sent: Tuesday, January 14, 2014 12:17 AM
Subject: BẢY MƯƠI TƯ ANH HÙNG NĂM BẢY MƯƠI TƯ.




 

Mời đọc bài thơ ca tụng các anh hùng tử sĩ hải quân VNCH của nhà thơ phản kháng TMH Thơ hay quá, thật là hào hùng các chiến sĩ hy sinh vì Tổ Quốc!
Trần Mạnh Hảo (1947 - ) là một nhà thơ, nhà văn kiêm nhà báo Việt Nam. Ông viết cuốn Ly Thân và bị khai trừ khỏi đảng. Hiện ông sống ở Việt Nam như một tác giả tự do.
Ông cũng từng giữ chức danh ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam.
Ông từng được nhiều giải thưởng văn học.
 Trong bài "Mao Trạch Đông" sáng tác năm 1994, ông mô tả lãnh tụ nổi tiếng Trung Quốc này một cách không kiêng nể:
Trán Người cao hơn nghìn núi sọ
Mặt Người mênh mông hơn niềm hư vô thần linh
Tháng chạp Hồ Nam tuyết rắc đầy lông cáo
Sông Dương Tử ám như ma dìm chết đuối Động Đình...
CHÙM THƠ TRẦN MẠNH HẢO KỶ NIỆM BỐN MƯƠI NĂM HẢI CHIẾN HOÀNG SA .

BẢY MƯƠI TƯ ANH HÙNG NĂM BẢY MƯƠI TƯ
(Tưởng nhớ 74 chiến sĩ anh hùng của hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh anh dũng trong trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa ngày 19/1/1974)
anh hao 
Ai chết vì lý tưởng lý tung ?
- Các anh chết vì Tổ Quốc !
Năm bảy tư của bảy tư anh hùng
Linh hồn các anh bạc đầu sóng nước
Hoàng Sa Trường Sa máu Việt gầm rung
Các anh làm tàu giặc nổ tung
Giặc trùng trùng vây bủa
Biển nổi khùng
Sóng đánh nghìn lưỡi búa
Biển òa thương ôm xác các anh nằm
Hỡi năm bảy mươi lăm
Hãy quay đầu bái vọng năm bảy mươi tư
Thắp cho các anh hùng nhang khói
Ai dâng đảo cho Tàu ?
Các anh không thèm nói
Gió thét gào nước Việt vẫn còn đau
Sài Gòn 8-1-2014
Trần Mạnh Hảo
 SÓNG HOÀNG SA KỂ
Sóng kể rằng
Họ đã chết cho Hoàng Sa
Dù Hoàng Sa đã mất
Vinh danh Hải quân Việt Nam Cộng Hòa
Bảy mươi tư linh hồn thất lạc
Nước Việt từ trứng nước đã can qua
Sóng nói rằng
Trong cuộc tranh hùng Quốc – Cộng
Trung Cộng đứng phe nào
Trung Cộng thành cướp nước
Trời rỗng hết lòng cao
Ai chết cho Tổ Quốc
Hồn hóa thành trăng sao
Sóng thét rằng
Hãy kéo sông Bạch Đằng ra giữa biển
Biến đỉnh sóng thành gò Đống Đa
Những hồn lính hải quân xưa vụt hiện
Giết giặc Tàu giành đảo giữa phong ba
Sài Gòn ngày 8-1-2014
Trần Mạnh Hảo
Người anh hùng họ Ngụy
Người yêu nước không thể nào là ngụy
Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy
Nhưng anh:
Là Ngụy Văn Thà (*)
images
Anh- hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo
Lao thẳng vào tàu giặc cướp
Tên anh còn mãi với Hoàng Sa
Biển vật mình thét đại bác
Giặc bủa vây chiến dịch biển người
Lửa dựng trời dìm tàu giặc
Máu anh cùng đồng đội ngời ngời
Ôm chặt tàu
Ôm chặt đảo
Anh hóa thành Tổ quốc giữa trùng khơi
Gió mùa đông bắc gào khóc
Ngụy Văn Thà
Mãi mãi neo tàu vào quần đảo
Tổ quốc ngoài Hoàng Sa
Trận chiến ba mươi phút
Tượng đài anh là phong ba
Đỉnh sóng khói hương nghi ngút
Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu
Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ
Linh hồn anh hú gọi đất liền
Ngụy Văn Thà
Tên anh không phải bài ca
Tên anh là lời thề độc:
-Phải giành lại Hoàng Sa
Sóng vẫn vồ lấy đảo…
Trần Mạnh Hảo



__._,_.__



Thursday, January 9, 2014

[PhoNang] Thông báo Treo cờ Việt Mỹ nhân dịp Tết Giáp Ngọ

Patrick03 Lew
To phonang@yahoogroups.com
Today at 6:35 AM
minh tran
alt11:10 PM (7 hours ago)
alt

alt
alt
to Thu-Ha, Khoi, VanHoaNBLV, An, Andrew, Andrew, Anh, Anh, Anh, Ba, Bac, Bach, Ban, Bao, Benjamin, Billy, Billy, Cao, Cau, Chau, Chau, Chi, Chinh, Chu, Dai
alt
Kính thưa quý vị,
Nhân dịp Tết Giáp Ngọ sắp tới, Ban Dựng Cờ Chính Nghĩa Quốc Gia sẽ thực hiện việc treo cờ Việt Mỹ và phướn Tết trên đoạn đường Bolsa, từ Magnolia tới Brookhurst, từ ngày 25/1 tới 8/2/ 2014.
Việc trưng bày phướn Tết cần phải có sự hỗ trợ của quý vị và các mạnh thường quân mới có thể hoàn thành, để cho phần trung tâm của khu vực Little Saigon có không khí tưng bừng ngày Tết.
Phần lớn số tiền bảo trợ được dùng vào chi phí in ấn phướn và dịch vụ treo. Phần nhỏ còn lại để dùng vào việc mua cờ và các dụng cụ cần thiết.
Kính mong quý vị yểm trợ và góp tay phổ biến.
Xin chân thành cám ơn,
Thay mặt,
Ủy Ban Dựng Cờ Chính Nghĩa Quốc Gia
Trần V Minh

[PhoNang] Việt Dũng Nguyệt Ánh




Patrick03 Lew
To phonang@yahoogroups.com

Today at 8:02 AM

Youtube này quá cam dông và là 1 diêm báo truoc cai chêt cua VD


http://www.youtube.com/watch?v=2jvFPkKioKQ&desktop_uri=%2Fwatch%3Fv%3D2jvFPkKioKQ&app=desktop

__._,_.___

Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (1)
Recent Activity: